Phương pháp dạy làm văn đã được trang bị trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm, được tập huấn trong các đợt bồi dưỡng thay SGK nhưng việc dạy TLV ở cấp THCS còn gặp rất nhiều khó khăn. Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Rèn luyện kĩ năng
Các bước làm bài văn nghị luận chứng minh: + Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài, viết bài và sửa chữa. Tùy theo từng dạng đề bài mà xác định vấn đề chứng minh, xác lập hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng. Trong văn chứng minh thì các dẫn chứng là chủ yếu và không thể thiếu + Viết được các đoạn văn mạch lạc, liên kết chặt chẽ các phần, các đoạn.
Bởi vậy, RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN THCS rất cần thiết, là định hướng đúng đắn cho học sinh. Phần nội dung chuyên đề có cấu trúc như sau: I. Nhận diện đặc điểm của văn nghị luận xã hội. II.
Dưới đây là một cách rèn luyện tư duy đối với mảng NLXH tương đối hiệu quả, các em học sinh có thể tham khảo và áp dụng: - Dành 10 - 15 phút điểm báo mỗi ngày (báo mạng hoặc báo điện tử). Khi điểm báo nên quan tâm những vấn đề "nóng", gây nhiều tranh luận, những sự kiện lớn và những trào lưu, hiện tượng của giới trẻ.
Văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, xã hội thì mới có ý nghĩa. Khi bắt gặp một đề nghị luận xã hội, các bạn phải chú ý: - Yêu cầu nội dung nghị luận về chủ đề gì?
Q5mXVV3. Cách làm một bài văn nghị luận xã hội – Dường như khi giáo viên hỏi học sinh về lí thuyết các bước khi làm một bài văn nói chung và một bài nghị luận xã hội nói riêng các em đều định hình được 4 bước 1/Tìm hiểu đề và tìm ý ; 2/ Lập dàn ý; 3/ Viết bài ; 4/ Đọc lại bài viết và sửa chữa nhưng thực chất khi tiếp cận một đề tập làm văn đa phần là các em không tuân thủ các bước nói trên mà cố lắm thì tìmmột vài ý cơ bản sau đó nháp phần mở bài rồi cắm cúi viết đến khi trống đánh hết giờ nộp bài. Chính vì vậy cho nên có những bài viết sa đà, lạc đề, diễn đạt lủng củng theo kiểu nghĩ gì viết nấy, không trau chuốt không gọt dũa…Trước thực trạng đó, tôi thường dành nhiều thời gian kiểm tra và rèn cho các em với những nội dung sau – Cho đề bài, yêu cầu học sinh phân tích đề bài và tìm ý cho đề bài đó hoặc lập dàn ý cho đề bài trên. Sau phần kiểm tra đó tôi thường cho các em nhận xét, trình bày trước lớp. Phần đa các em trình bày không đầy đủ hoặc phân tích đề rất sơ sài. Thậm chí có em không lập được dàn ý chi tiết. Có em trao đổi với tôi rằng Em viết một bài viết thấy dễ hơn nhiều khi phải lập một dàn ý, mặc dù chỉ gạch đầu dòng để xác định ý. Điều đó hoàn toàn không sai, bởi các em chưa có thói quen lập dàn ý. Qua việc kiểm tra hs tôi vận dụng tiết chủ đề tự chọn để hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề và lập dàn ý và tôi đã thực hiện như sau Phân tích đề và tìm ý Phân tích cho học sinh thấy tầm quan trọng của khâu phân tích đề + Mỗi đề văn nghị luận thường có những đặc điểm riêng về hình thức và nội dung, không đề nào hoàn toàn giống đề nào cho nên không thể sao chép bài làm thuộc đề này sang bài làm thuộc đề khác. Vì vậy trong quá trình làm bài văn nghị luận việc xác định yêu cầu của đề là công việc cần thiết. Tìm hiểu kĩ đề sẽ tránh được tình trạng lạc đề, thừa ý, thiếu ý…trong bài làm. Đề văn có nhiều dạng thức khác nhau tuy nhiên căn cứ vào nội dung và hình thức cấu tạo ta nhận thấy có những dạng đề sau – Đề trực tiếp Có kết cấu rạch ròi, đầy đủ gồm 2 bộ phận. Bộ phận A chứa đựng dữ kiện tiền đề. Bộ phận B chứa đựng điều đề bài yêu cầu, bộ phận này thường được diễn đạt dưới dạng một câu cầu khiến hãy phân tích; hãy chứng minh; Em hiểu thế nào? Cảm nhận của em – Đề tự do đề mở Là những đề bài không có quy định một cách cụ thể, chặt chẽ các yêu cầu về nội dung và hình thức cũng như phương hướng cách thức, mức độ phạm vi giải quyết. Do đó về mặt kết cấu, những đề này có đặc điểm là trong bộ phận A thường không có trích văn, bộ phận B các yêu cầu nêu lên không đầy đủ . Tất cả tùy thuộc vào vốn hiểu biết và trình độ nhận thức của người làm bài. CÁC BƯỚC TÌM HIỂU ĐỀ Bước 1 Đọc đề bài. Đây là bước cần thiết để có được những nhận định chung nhất, những dự cảm đầu tiên về nội dung làm bài và những phương hướng giải quyết vấn đề do đề bài nêu lên. Bước 2 Phân tích, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận. Nhận diện xem đề thuộc loại hình nào? Đề ttrực tiếp hay đề tự do. Phân tích đâu là dự kiện cho trước những tiền đề của tình huống có vấn đề – bộ phận A. Sau đó tìm hiểu những yêu cầu về nội dung và hình thức, phương hướng, cách thức, giới hạn giải quyết vấn đề bộ phận B Phải tìm hiểu cặn kẽ ý nghĩa của những từ ngữ quan trọng, vai trò của các vế, các câu, phân tích quan hệ ngữ pháp và quan hệ lôgíc – ngữ nghĩa của chúng. Bắt đầu từ sự phân tích ý nghĩa trực tiếp của câu, chú trọng lời văn trích nếu có, tập trung chú ý vào những từ ngữ đầu mối then chốt và ngăn tách các vế trong câu văn để dễ phân biệt. Phải nghiền ngẫm, cố phát hiện cho hết ý nghĩa của các từ, nghĩa đen và nghĩa bóng Ví dụ minh hoạ Đề 1 – Tục ngữ có câu Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Nhưng có bạn nói Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào. Hãy chứng minh rằng câu tục ngữ và ý kiến của bạn em đều có khía cạnh đúng. Nhận diện đề Đề trực tiếp. Kiểu bài Nghị luận xã hội Gạch chân các dữ kiện. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào Đề đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết? đi – học nghĩa đen, nghĩa bóng Thao tác nghị luận Chứng minh Câu tục ngữ và ý kiến của bạn em đều có khía cạnh đúng, và sử dụng lập luận giải thích để làm sáng tỏ vấn đề. Nguồn tư liệu để dẫn chứng Thực tế cuộc sống, tấm gương sáng qua sách vở. Đề 2 – Nhà triết học người Anh Phơrăngxit Bêcơn có nói Tri thức là sức mạnh . Em hiểu câu nói đó như thế nào? Nhận diện đề Đề trực tiếp. Kiểu bài Nghị luận xã hội Gạch chân các dữ kiện. Tri thức sức mạnh . Đề đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết? có tri thức, có sức mạnh Thao tác nghị luận Giải thích, chứng minh Dẫn chứng Thực tế cuộc sống. Đề 3 “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” M. Gorki Nhận diện đề Đề tự do Gạch chân các dữ kiện. Thao tác nghị luận Giải thích, Chứng minh Nguồn tư liệu để dẫn chứng Thực tế cuộc sống, việc thực, người thực được lưu lại qua sách vở – Tìm ý Để lập ý cho bài văn nghị luận ta có thể dựa vào các căn cứ sau Về nội dung, đề bài bao giờ cũng chỉ rõ vấn đề cần nghị luận là gì, từ đó giúp ta xác định được phương hướng lập ý. Chú ý giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng. Xác định luận điểm. Luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận. Luận điểm thể hiện rõ quan điểm, chủ trương đánh giá của người viết. Luận điểm của bài văn được thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn, là những phán đoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định. Mở rộng vấn đề. Bàn luận dựa trên cơ sở lập trường đạo đức cách mạng Ví dụ minh họa Đề 1 Lập ý cho đề bài văn nghị luận sau Nhà triết học người Anh Phơrăngxit Bêcơn có nói Tri thức là sức mạnh. Em hiểu câu nói đó như thế nào? Tìm ý Giải thích câu nói nổi tiếng và làm sáng tỏ nội dung câu nói đó. Câu nói có 2 vế Tri thức và sức mạnh. Luận điểm 1 Tìm hiểu tri thức là gì, tại sao tại sao tri thức là sức mạnh. Luận điểm 2 Con người ta khi chưa có tri thức và không có tri thức thì tình trạng như thế nào? Khi có tri thức rồi thì trở thành con người như thế nào? Luận điểm 3 Câu nói đặt ra nhiệm vụ gì? Đối với bài văn nghị luận, khi tìm ý chúng ta phải biết cách đặt câu hỏi và biết cách trả lời câu hỏi. Mỗi kiểu bài đòi hỏi cách đặt câu hỏi thích hợp để tìm ý đúng với yêu cầu của thể loại. Việc vận dụng câu hỏi phải hết sức linh hoạt và đúng với từng kiểu bài. Lập dàn ý Mục đích của việc lập dàn ý Gơt-tơ, nhà văn nổi tiếng của Đức quả quyết Tất cả đều lệ thuộc vào bố cục. Còn Đôt-tôi-ep-xki, nhà văn Nga của thế kỉ XX ước ao Nếu tìm được một bản bố cục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên băng. Ix-pen, một nhà văn của Thuỵ Điển đã để hẳn một năm lao động xây dựng bố cục cho bản trường ca và ông đã hoàn thành bản trường ca đó trong ba tháng. Thật vậy, để làm một dàn ý tốt không phải dễ. Muốn có một dàn ý tốt thì ngoài việc nghiên cứu kĩ đề để lĩnh hội yêu cầu của đề còn phải có thói quen bố trí cho khoa học. Có nhiều học sinh cho rằng Thời gian làm bài rất hạn chế, chỉ 90 phút nếu còn phải lập dàn ý thì lãng phí mất khoảng thời gian quý báu! Sự thật không phải như vậy. Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn. Nói cách khác, đó là những hệ thống suy nghĩ, tìm tòi, nhận xét, đánh giá của học sinh dựa trên yêu cầu cụ thể của đề bài. Lập dàn ý trước khi viết bài có những cái lợi sau Nhìn được một cách bao quát toàn cục nội dung chủ yếu mà bài làm cần đạt được, đồng thời thấy được mức độ giải quyết vấn đề sẽ nghị luận và đáp ứng những yêu cầu đề bài đặt ra, tránh bài làm xa lệch trọng tâm. Thông qua việc làm dàn ý có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàn diện hơn để điều chỉnh hệ thống luận điểm. Lập dàn ý sẽ tránh tình trạng bỏ sót những ý quan trọng hoặc tránh những ý thừa. Khi có dàn ý cụ thể người viết chủ động phân chia thời gian cho hợp lí. Tránh tình trạng bài làm mất cân đối “đầu voi đuôi chuột”. Cấu trúc của một dàn ý bài nghị luận xã hội a/ Mở bài Dẫn dắt vấn đề Có nhiều cách, có thể nêu trực tiếp vấn đề, hoặc nêu hoàn cảnh xã hội, lịch sử… của vấn đề xuất hiện. Cũng có lúc sử dụng cách so sánh, nghi vấn hoặc tương phản. Nêu vấn đề Trích dẫn câu văn, câu thơ, câu tục ngữ, câu danh ngôn…được trích dẫn trong đề bài. b/ Thân bài Đối với kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. thông thường có 4 ý cơ bản Thực trạng của vấn đề cần nghị luận. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng xã hội ấy. Hậu quả hoặc kết quả của vấn đề xã hội đó. Biện pháp khắc phục hoặc giải pháp cho sự phát triển xã hội. * Đối với kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí Giải thích ngắn gọn luận đề Chứng minh giải thích, bình luận từng luận điểm theo mô hình sau I Luận điểm 1. 1 Luận cứ 1 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2.. + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý. 2 Luận cứ 2 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2.. + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý… II Luận điểm 2. 1 Luận cứ 1 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2.. + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý. 2 Luận cứ 2 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2… … + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý… III Mở rộng vấn đề Tổng hợp vấn đề đã chứng minh giải thích, bình luận, nhấn mạnh tính chặt chẽ không thể bác bỏ được. c/ Kết bài Nêu lên suy nghĩ, quan điểm khái quát của mình về vấn đề cần nghị luận, rút ra bài học cho bản thân. Ví dụ minh họa Đề 3 Lập dàn ý cho đề bài sau “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” M. Gorki a/ Mở bài – Giới thiệu khái quát vai trò và tác dụng của sách trong đời sống. – Trích dẫn câu nói của M. Gorki b/ Thân bài + Luận điểm 1 Giải thích ý nghĩa của câu nói; Về kinh nghiệm sản xuất * Sách là gì? Là kho tàng trí thức Về đời sống con người, Về thế giới tự nhiên, Sản phẩm của văn minh nhân loại Là sản phẩm tinh thần Kết quả của lao động trí tuệ, Giúp ta hiểu biết lẽ phải Là người bạn tâm tình gần gũiLàm cho cuộc sống tinh thần phong phú. + Luận điểm 2 Sách mở rộng những chân trời mới Sách giúp ta hiểu biết những kiến thức Về khoa học xã hội, Về khoa học tự nhiên + Luận điểm 3 Vì sao ta cần phải đọc sách? Đọc sách có nội dung tốt Góp phần nâng cao hiểu biết, khám phá chính bản thân, chắp cánh cánh ước mơ khát vọng và sáng tạo. Sách chia sẻ với chúng ta mọi kiến thức. Sách dạy ta cảm nhận cuộc đời. Đọc sách có nội dung không lành mạnh Hiểu sai sự thật, nhìn nhận vấn đề lệch lạc, tự hạ thấp nhân cách. + Luận điểm 4 Phải làm gì để thông qua sách có thể mở được chân trời mới? Tạo thói quen và duy trì hứng thú đọc sách. Cần chọn sách tốt có giá trị khoa học và nhân văn. Phê phán và lên án những sách có nôi dung không lành mạnh. c/ Kết bài Khẳng định ý nghĩa của việc đọc sách. 3/Viết bài Sau khi lập dàn ý xong các em đựa vào dàn ý để viết bài. Khi viết bài văn nghị luận cần lưu ý Sử dụng hệ thống luận cứ và luận chứng sát hợp và thực tế. Sử dụng các phương tiện liên kết lập luận. Kĩ năng trình bày luận chứng, nêu luận chứng phải kèm dẫn giải, bình luận, phân tích. a/ Viết phần mở bài Vị trí và vai trò của phần mở bài M. Gorki đã từng nói Khó hơnn cả là phần mở bài, cụ thể là câu đầu. Cũng như âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của cả tác phẩm, và người ta thường tìm nó rất lâu. Phần mở bài có vị trí quan trọng vì Nó là phần đầu tiên, phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn văn bản. Mở bài rõ ràng, hấp dẫn tạo được sự hứng thú người đọc và thường báo hiệu một nội dung tốt. Chức năng của phần mở bài Nó phản ánh được yêu cầu cơ bản của đề bài. Nó giới thiệu nêu vấn đề trung tâm mà bài nghị luận đề cập và giải quyết, nó xác định phương hướng, phạm vi, mức độ giải quyết vấn đề. + Yêu cầu về nội dung của phần mở bài Đưa ra được tiền đề, dữ kiện đòi hỏi phải có lời giải đáp trong phần thân bài. Đối với đề bài có yêu cầu phê phán, không nên để lộ thiên hướng của người viết tức là không để lộ điều khẳng định bài viết sẽ kém sức thuyết phục. Cấu tạo của phần mở bài ở dạng đầy đủ Dẫn vào đề Nêu xuất xứ của đề, của một ý kiến, một nhận định… có thể bắt đầu bằng một sự kiện đặc sắc, một hình tượng hấp dẫn, một thôn báo thú vị để kích thích trí tưởng tượng của người đọc. Có thể vào thẳng vấn đề mà không cần lời dẫn. Đề xuất vấn đề Đây là bộ phận có nhiệm vụ tạo nên tình huống có vấn đề mà mình sẽ giaỉ quyết trong phần sau có thể nêu một câu hỏi bất ngờ, một mẫu chuyện để gây cấn hấp dẫn… Giới hạn vấn đề Xác định phương hướng, phương pháp, phạm vi mức độ, giới hạn của vấn đề Về hình thức Phần mở bài phải cân xứng với khuôn khổ bài viết, những câu dẫn đề nên viết ngắn gọn, khéo léo, tránh viết dài dòng, cầu kì, tránh viết lan man không ăn khớp với những phần sau. * Một số cách thức mở bài – Mở bài trực tiếp Giới thiệu ngay vấn đề cần trình bày. Đó là phép mở bài mà người xưa nói mở cửa sổ thấy núi. Cách mở bài này tiết kiệm thời gian, nhanh,gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, thích hợp với những bài viết ngắn gọn, nhưng nếu không khéo sẽ bị khô khan, ít hấp dẫn. Ví dụ Suy nghĩ của em về câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn Mở bài Bàn về mối quan hệ giữa bản chất và hình thức bề ngoài của sự vật, hiện tượng, tục ngữ Việt Nam có câu Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Nhận định của câu tục ngữ có đúng hoàn toàn? Mở bài gián tiếp Không đi ngay vào vấn đề mà thông qua một loạt sự dẫn dắt, sau đó mới nêu vấn đề trình bày. Cách này thường dài, tốn thời gian nhưng lại lôi cuốn, hấp dẫn người đọc Mở bài 1 Trong đời sống hiện nay, không mấy ai không bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp bên ngoài, bởi danh vọng, địa vị. Vì thế nhiều người thường bị những hình thức bên ngoài ấy che lấp khiến mất khả năng đánh giá chính xác sự vật, hiện tượng, thậm chí còn đem cả cuộc sống theo đuổi những vinh quang vô bổ. Để răn đời, đồng thời nêu lên một nhận xét chung về vai trò quan trọng của nội dung so với hình thức, tục ngữ có câu Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Mở bài 2 L. Tôn-xtôi từng nói Người ta đáng yêu không phải vì đẹp mà đẹp vì đáng yêu. Ý của nhà văn muốn đề cao phẩm chất của con người. Cùng quan điểm như vậy, nhưng cách diễn đạt giàu hình ảnh, và có thể hiểu một cách rộng hơn phạm vi đánh giá con người, tục ngữ có câu Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. b/ Viết phần thân bài Phần thân bài là phần giải quyết vấn đề. Phần này thường gồm một số đoạn văn được liên kết với nhau thành một hệ thống nhằm giải đáp một số yêu cầu của đề bài. Nếu đề bài cho sẵn trình tự yêu cầu thì ta giải quyết từng yêu cầu theo một trình tự ấy. Nếu đề bài không cho sẵn thì ta phải định ra một trình tự để giải quyết sao cho hợp lôgíc. Khi viết phần thân bài cần chú ý các điểm sau Viết đoạn văn nghị luận Đoạn văn thường được xây dựng theo câu chủ đề, nó có tác dụng định hướng, triển khai tránh được tình trạng lạc ý. Câu chủ đề tức là câu luận điểm đặt ở đầu đoạn ứng với mô hình diễn dịch, đặt ở cuối đoạn ứng với mô hình quy nạp. Có khi đoạn văn không có câu chủ đề. Trong trường hợp này, chủ đề của đoạn văn được ngầm hiểu qua việc khái quát ý của tất cả các câu. Sau mỗi đoạn văn phải giải quyết trọn vẹn một đề mục. Những chỗ xuống dòng thích hợp rrất cần cho một bài làm. Giúp cho bài văn sáng sủa, mạch lạc. Trong quá trình làm bài cần lưu ý vận dụng phép liên kết câu, liên kết đoạn. Các ý chính ý trọng tâm được viết thành các đoạn chiếm tỉ lệ thích đáng so với toàn bài. Các ý phụ chỉ nên viết thành những đoạn văn ngắn. c/ Viết phần kết bài Phần kết bài không chỉ là tổng kết, tóm lược những luận điểm cơ bản đã trình bày trong phần thân bài mà còn nhấn mạnh, khẳng định ở tầm nhìn cao hơn. Thông thường thì người ta nêu mối tương quan biện chứng giữa các luận điểm hoặc cũng có thể nêu ý nghĩa, tác dụng chủ yếu về mặt giáo dục và nhận thức vấn đề đối với bản thân người viết. Trong phần kết bài nếu có những ý sắc sảo độc đáo sẽ gây được ấn tượng mạnh mẽ về sự hoàn tất trọn vẹn, gợi cho những ý nghĩ, cảm xúc sâu sắc, tạo được dư âm cuối cùng ở người đọc. Phần kết bài có quan hệ hữu cơ với phần mở bài và phần thân bài. Đặc biệt là phần mở bài và phần kết bài thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất về mặt nội dung cũng như phong cách diễn đạt. * Yêu cầu và phương pháp viết kết bài Phần kết bài kết tụ được những tinh tuý, cơ bản nhất của vấn đề nghị luận bằng những nét ngắn gọn khái quát nhất có tính nâng cao giúp người đọc nhứ cái cốt lõi và cái nhìn tổng quát lại toàn bộ vấn đề. Nếu rút ra bài học thì những bài học liên hệ phải chân thành xuất phát từ nhận thức, từ kinh nghiệm sống của bản thân. Tránh lối liên hệ gò ép, cứng nhắc, giả tạo, lên gân ồn ào hoặc sáo mòn công thức. Phần kết bài không nên viết dài, dễ lan man trùng lặp với phần trên. Nên viết cô đúc, súc tích * Một số kết bài thường gặp * Một số dạng kết bài Dạng tổng hợp, tóm lược những ý chính đã trình bày ở phần thân bài. Đây là cách kết bài dễ làm nhất thường gặp trong bài tập làm văn. Viết phần kết bài của đề bài sau Em hiểu thế nào về câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen Kết bài Tóm lại, quan điểm đề cao kinh nghiệm, đề cao thực hành, chống lí thuyết suông trong câu tục ngữ là rất đúng đắn. Nhưng nếu hiểu lệch câu tục ngữ mà coi nhẹ lí thuyết thì thật cực đoan, phiến diện. Trình độ lao động của mỗi người nói riêng và của toàn xã hội nói chung chỉ có thể phát triển vững chắc và nhanh chóng nếu biết kết hợp lí thuyết với thực hành. Dạng mở rộng và nâng cao. Là cách kết mở rộng vấn đề đặt ra trong đề bài. Kết bài Qua tìm hiểu câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen, chúng ta thấy kinh nghiệm của ông cha ta để lại thật quý báu, nhưng không hẳn kinh nghiệm nào cũng xác đáng hoàn toàn. Bởi vậy, trong khi tiếp thu kinh nghiệm xưa một cách trân trọng , chúng ta cần vận dụng hiểu biết khoa học, thực tiễn đời sống hiện nay bổ khuyết cho những thiếu sót, những điểm chưa hoàn chỉnh của kinh nghiệm ấy, góp phần làm giàu vốn tri thức của dân tộc. Dạng vận dụng Là cách kết bài nêu ra phương hướng áp dụng cái tốt, cái hay hoặc khắc phục cái xấu, cái dở của hiện tượng hay ý kiến đề cập trong bài văn vào cuộc sống. Kết bài Tiếp thu kinh nghiệm quý báu của người xưa trong câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen, chúng ta phải coi trọng kinh nghiệm thực tế và những người có kinh nghiệm thực tế, phải luôn luôn có ý thức vận dụng các hiểu biết lí thuyết vào cuộc sống, không ngừng rrèn luyện kĩ năng lao động. Mặt khác, cũng cần khắc phục lề lối làm việc, ra sức học hỏi lí luận khoa học và làm việc theo phương pháp khoa học để nâng cao năng xuất lao động, phát triển kĩ năng thực hành có ý thức, có kế hoạch. Kết bài Tóm lại câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen có mặt đúng nhưng cũng có mặt hạn chế trong quan niệm, trong nhận định, đánh giá lại một vấn đề. Câu tục ngữ này đã gợi cho người đọc, người nghe những suy nghĩ về mối quan hệ gắn bó giữa lí thuyết và thực hành. Qua câu tục ngữ chúng ta càng thấm thia lời dạy của Bác Học phải đi đôi với hành, lí thuyết phải gắn liền thực tiễn. Từ đó chúng ta có quyết tâm học tập tốt, thực hành tốt những kiến thức khoa học kĩ thuật để góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước. Dạng liên tưởng Là cách kết bài mượn ý kiến tương tự của dân gian, của danh nhân… để thay lời tóm tắt của người viết. Kết bài Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn chúng ta Học phải đi đôi với hành, lí thuyết phải gắn liền thực tiễn. Đó cũng chính là bài học chúng ta cần rút ra từ câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen.
Ngày đăng 15/10/2017, 0740 MỤC LỤC I MỞ ĐẦU Lí chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu II NỘI DUNG sở lí luận trạng nghiên cứu giải pháp thực Tổ chức thực kết III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ luận nghị Tài liệu tham khảo Trang 01 01 01 01 02 02 02 02 03-18 19 19 19 20 I MỞ ĐẦU LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Với vị trí quan trọng mạnh riêng nhà trường phổ thông, môn Văn trước hết giúp người học tiếp xúc với vẻ đẹp kỳ diệu phong phú tiếng mẹ đẻ, tiếp xúc với vốn văn hoá dân tộc văn hoá nhân loại kết tinh tác phẩm Văn học hình thành cho HS khả tạo lập văn từ bồi dưỡng tâm hồn, góp phần hình thành phát triển nhân cách toàn diên cho học sinh Bộ môn Ngữ văn nhà trường phổ thông bao gồm ba phân môn chính Tiếng Việt - Đọc Văn – Làm văn Trong đó, phân môn Tiếng Việt cung cấp kiến thức ngôn ngữ kỹ sử dụng Tiếng Việt giao tiếp, đọc văn Hay gọi Đọc – Hiểu tác phẩm Văn học giúp em có khả cảm thụ hay đẹp mà tác phẩm văn học mang lại Cùng với việc rèn kĩ đọc hiểu, kĩ sử dụng tiếng Việt, phần Làm văn trọng phần thể rõ kĩ thực hành, sáng tạo học sinh Làm văn gồm hai dạng nghị luận văn học nghị luận xã hội Trong chương trình giảng dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao nhiều so với trước đây, nhằm mục đích tăng cường gắn bó học sinh với đời sống xã hội, tạo cho học sinh lực chủ động đề xuất, phát biểu suy nghĩ trước nhiều vấn đề sống Trong trình giảng dạy rút kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm văn NLXH Bài viết không nêu lý thuyết chung về kỹ làm văn nghị luận xã hội mà nêu lên vài phương pháp việc rèn luyện kỹ làm văn nghị luận xã hội để em có hứng thú làm MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Qua đề tài muốn đạt mục đích bản - Giúp em nắm phương pháp kỹ để HS làm tốt làm văn nghị luận xã hội - Thông qua việc rèn luyện kỹ làm văn NLXH giúp HS nâng cao khả trình bày quan điểm trước vấn đề đặt XH ngày nay, có cách nhìn nhận, đánh giá tư tưởng đạo lí, tượng đời sống diễn hàng ngày vấn đề xã hội đặt tác phẩm văn học Đặc biệt qua đề tài giúp em có hứng thú với văn nghị luận XH làm tốt hơn, đạt kết cao kỳ thi THPT Quốc gia tới - Đề tài dùng làm tài liệu tham khảo cho GV tổ chuyên môn tham khảo dạy NLXH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Một số biện pháp rèn luyện kỹ làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT - Các viết thực hành NLXH có chương trình THPT lớp 10,11 - Cấu trúc dạng đề NLXH Tư tưởng đạo lí, tượng đời sống, vấn đề XH đặt tác phẩm văn học PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đề tài vận dụng phương pháp như Khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá, đối chứng với thực tế giảng dạy II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CƠ SỞ LÍ LUÂN Làm văn phân môn môn ngữ văn nhà trương THPT Khi học phân môn HS thường gặp khó khăn kỹ làm văn NLXH HS không nắm vững quy trình làm từ khâu tìm hiểu đề, nhận dạng đề, đến khâu lập dàn ý Đặc biệt vấn đề xác định luận điểm, luận viết Bởi vấn đề đặt văn NLXH thường rộng lớn bao gồm vấn đề tư tưởng đạo lý, tượng tốt, xấu đời sống XH nay, hiểu biết kiến thức XH HS yếu Vì nhiều HS cảm thấy ngại ngần làm văn NLXH Hứng thú với dạng đề NLXH HS vấn đề mà GV cần phải quan tâm Bởi NLXH gắn với vấn đề XH như tư tưởng đạo lý, tượng đời sống nhằm giúp cho HS có nhận thức hành động đắn sống Đặc biệt thông qua viêc làm văn nghị luận XH học sinh bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất trị kỹ sống ngày hoàn thiện THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Về phía học sinh Nghị luận xã hội học cấp trung học sở, phải trình bày suy nghĩ, ý kiến cá nhân vấn đề tư tưởng đạo lý, tượng xã hội…thì đa số học sinh lúng túng “sợ” kiểu Bởi Khác với nghị luận văn học, nội dung kiến thức học trước thiên cảm xúc, nghị luận xã hội yêu cầu kiến thức rộng thuyết phục người đọc chủ yếu lập luận lý lẽ, hiểu biết em kiến thức xã hội hạn chế, kỹ làm yếu Chính mà kiểu gợi hứng thú học sinh Thật sách giáo khoa sách giáo viên có phần hướng dẫn phương pháp làm cụ thể Nhưng dù có áp dụng theo cách hướng dẫn làm ấy, nhiều học sinh thấy khó khăn viết - viết mươi dòng hết ý! Đó em thiếu phần vô quan trọng kiến thức văn hóa vốn sống Vậy kiến thức lấy đâu? Điều phụ thuộc hoàn toàn vào khả tự học, tự đọc, tự thu thập kiến thức học sinh Ngày nay, với phương tiện đại việc truy cập thông tin điều đơn giản, thực tế hoàn toàn ngược lại học sinh nghèo vốn kiến thức xã hội, văn hóa Vì vậy, học sinh cần phải giáo viên định hướng, nắm bắt kiến thức kỹ cần thiết để làm tốt văn nghị luận xã hội Về phía giáo viên Việc cung cấp kiến thức rèn luyện kỹ làm văn NLXH cho học sinh điều khó số tiết quy định chương trình có giới hạn Tư liệu nghị luận xã hội không phong phú nghị luận văn học nên thuận lợi việc soạn giảng Từ thực tế trên, xin đưa số kinh nghiệm cá nhân dạy nghị luận xã hội để đồng nghiệp tham khảo 3 NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ LÀM TỐT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Cách xác định luận điểm viết văn nghị luận xã hội Luận điểm coi linh hồn văn Vì vậy, làm văn nghị luận xã hội cần phải dựa vào yêu cầu định đề tài liệu để phân tích suy ngẫm toàn diện, đưa chủ trương kiến giải rõ ràng chuẩn xác cho thân tất vấn đề cần bàn bạc, nghị luận Một luận điểm hay nên có đặc điểm sau 1 Chính xác Không trái với thực khách quan lí luận khoa học 2 Rõ ràng Khẳng định gì, phủ định gì, lập trường rõ ràng, không lập lờ 3 Sâu sắc Cần phải sâu vào vật tượng để làm lộ chất vật tìm thứ có quy luật 4 Độc đáo Có kiến giải độc đáo mẻ việc loại vấn đề khác sống Làm để đưa luận điểm hay ? Có thể tham khảo phương diện - Đọc kĩ đề tài liệu , xác định rõ nội dung yêu cầu Chỉ có dựa lí giải đầy đủ đề tài liệu tìm góc độ làm văn hợp lí đưa luận điểm cách thuận lợi - Đi sâu suy ngẫm, nắm vững trọng tâm đề tài liệu Suy ngẫm vấn đề từ nhiều góc độ nhiều phương diện khác nhau, phân tích tài liệu từ vấn đề liên hệ sang vấn đề khác, phân tích kĩ lưỡng từ vào để nắm vững gốc, đồng thời nhìn thấu bề vấn đề, từ mà nắm rõ chất Ví dụ Một người tài xế lái xe đường bệnh tim tái phát Trong giây phút cuối đời mình, ông làm ba việc sau Từ từ dừng xe bên vệ đường, đồng thời dùng chút sức lực cuối kéo cần phanh tay; mở cửa xe để hành khách xuống xe an toàn; tắt lửa mô tơ xe để đảm bảo an toàn hành khách, người đường xe Sau ông làm xong ba công việc nhẹ nhàng chút thở cuối bô lăng Vị tài xế tên Hoàng Chí Toàn, tất người tỉnh A, ghi nhớ tên vị tài xế Câu nói cuối phần tài liệu “ Tất người tỉnh A, ghi nhớ tên vị tài xế ”, câu nói ý nghĩa đoạn văn là Vị tài xế giây phút cuối đời kiên trì hoàn thành tốt công việc Chúng ta hiểu lòng yêu nghề, kính nghề hiểu tình yêu, tinh thần trách nhiệm người - Cần phải chọn góc độ lập luận Những thứ mà tranh hay đoạn văn đem lại từ nhiều phương diện nhiều góc độ Chúng ta nhìn cách tổng thể nhìn góc độ Nhưng tóm lại có chọn góc độ mà thân cảm nhận thấy sâu sắc để tóm tắt đưa quan điểm xác Ví dụ Có đoạn tài liệu sau Nguyễn Văn A, có biệt danh “ siêu nhân ”, người giàu tỉnh B Ông trước vốn người học nghề tiệm cầm đồ, sau có đảm nhiệm chức vụ nhân viên nghiệp vụ Khi ông 20 tuổi thăng chức lên giám đốc nghiệp vụ Trong thời gian đó, ông khắp nơi không ngừng tham khảo, tìm tòi, học hỏi Về lĩnh vực thị trường nói ông am hiểu sâu sắc, khách hàng cần gì, sản phẩm bán chạy, bối cảnh thị trường tương lai nào, ông có tính toán rõ ràng + Nguyễn Văn A từ nhỏ yêu thích đọc sách, ông đọc sách nhu cầu thiết cần phải đáp ứng ngày nên đọc không Ông cảm thấy vô nuối tiếc thân học vấn không đủ nên để theo kịp với thời cuộc, ông ngày thức dậy vào 4, sáng để đọc sách + Nguyễn Văn Y Đất nước giai đoạn chuyển bắt đầu thời đại với kinh tế phồn vinh xưa chưa có Thế cuối năm 90, ông bước bước vào nghề kinh doanh Mọi việc ông có kế hoạch kĩ lựa chọn mua nhà, mua đất với giá rẻ đồng thời thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn Trường Giang Năm 2000 Công ti Trường Giang thức tham gia vào thị trường ông trở thành Vua nhà đất Trong đoạn tài liệu nhìn thấy thành công nghiệp mà Nguyễn Văn A đạt Chỉ cần xuất phát từ điểm ban đầu nguyên nhân mà ông thành công nghiệp viết văn nghị luận từ nhiều góc độ khác tinh thần phấn đấu, kiên trì có kế hoạch - Khái quát luận điểm ngôn từ sắc bén Trong đoạn mở kết văn nghị luận thường có câu thể thái độ người viết vấn đề mà họ nghị luận Câu văn luận điểm văn Luận điểm nên ngắn gọn xúc tích, lời lẽ sắc bén, quan điểm phải rõ ràng có logic chặt chẽ Ví dụ Cuốn “ Năm đồng tiền vàng ” có thuật lại câu chuyện sau Abage nhỏ bố lên thảo nguyên chơi không may hai bố bị lạc đường Abage vừa mệt vừa sợ Cho đến lúc không bố Abage rút túi năm đồng tiền vàng, sau chôn đồng tiền vàng vào bụi cỏ bốn đồng tiền vàng dư đặt vào tay Abage nói “ Đời người có đồng tiền vàng, đồng dành cho thời kì trẻ thơ, thiếu niên, niên, trung niên tuổi già Bây dùng đồng đồng tiền chôn bụi cỏ mà phải từ từ dùng chúng Mỗi lần dùng đồng khác nhau, không uống phí đời người Hôm bố định phải thoát khỏi vùng thảo nguyên Trong tương lai định phải khỏi thảo nguyên Thế giới rộng lớn, người tồn nên phải nhiều nơi thử quan sát nhiều chút đừng để tiền vàng tác dụng mà ném ” Nhờ động viên bố mà Abage ngày hôm thoát khỏi thảo nguyên Sau lớn lên, Abage rời quê hương trờ thành truyền trưởng giỏi Đọc tài liệu cách tỉ mỉ giúp ta rút luận điểm “ trân trọng tính mệnh thoát khỏi trắc trở gập ghềnh đời ” Cách chọn luận cho văn nghị luận xã hội Luận tài liệu để nắm luận điểm, lí do, để người viết dùng chứng minh luận điểm Cùng với việc thể thái độ quan điểm thân người viết, đồng thời cần phải đưa có sức thuyết phục tán thành gì, tán thành, nhận định tượng không tốt, Như thuyết phục người khác Luận văn nghị luận có hai loại hình thức Luận thực tế luận đạo lí Luận thức tế bao gồm thực lịch sử, loạt truyện điển hình hay số thống kê Luận đạo lí bao gồm chân lí qua kiểm nghiệm thức tế, luận điểm thuật lại danh nhân, trình bày phân tích, cách ngôn, với nguyên lí, khái niệm, định luật công thức tự nhiên khoa học xã hội Dưới giới thiệu số phương pháp lựa chọn luận - Chọn luận từ sống Cuộc sống kho tài nguyên phong phú vô tận Mỗi người phải sống sống thực với chuyện hết đỗi bình thường tự nhiên có lúc chuyện vô lạ lùng, khó tin có lúc giao tiếp làm quen với người khác để từ với việc khác phát sinh loại mối quan hệ khác Đồng thời có tâm lí thử sức với địa vị, danh vọng, lí tưởng, nguyện vọng Tất thứ trở thành tư liệu luận để chứng minh cho quan điểm Ví dụ có đoạn văn nói tầm quan trọng giáo dục phát biểu báo Để luận chứng cho quan điểm “ Giáo dục đồng hành phát triển kinh tế ” người viết liệt kê loạt số liệu xác thực nghiệp phát triển giáo dục Nhật Bản sau chiến tranh để chứng thực tính xác quan điểm - Chọn luận từ việc đọc sách Nếu nói đến sách giáo khoa đọc hiểu có nhiều kiện lịch sử hoành tráng, có câu chuyện cảm động lòng người danh nhân, có văn hóa kì lạ đặc biệt nhiều nơi có phát minh khoa học vô thú vị Nếu nói rộng đọc báo, nghe đài hay lên mạng gặp thể loại tin tức đặc sắc Ví dụ câu chuyện “ Hãy cho trẻ đôi cánh tự lập ” kể “ Phú ông dầu mỏ nước Mĩ dạy ” Chuyện kể cách thể tình yêu thương đặc biệt Rockefeller “ dạy cho cách tự lập ”, cách dạy thực có sức thuyết phục - Khi chọn tài liệu làm luận nên tuân thủ theo nguyên tắc + Xoay quanh luận điểm Đây yêu cầu Tất luận chọn cần phải chứng minh cho nội dung mà luận điểm bao hàm văn nghị luận, ví dụ khác mà không liên quan đến nội dung không nên đưa vào tránh làm giảm sức thuyết phục luận + Có tính đặc trưng Khi chọn luận cần phải tuân thủ theo nguyên tắc mang tính điển hình, cố gắng chọn luận có sức thuyết phục, lại luận bình thường cố gắng dùng + Luận phong phú Các loại luận giới tự nhiên, xã hội loài người, thời cổ đại, đại; nước, nước, luận thực tế, luận đạo lí mà kết hợp cách khoa học với nâng cao sức thuyết phục văn + Luận có ý nghĩa đời đại Có thể chọn số luận mẻ, mang tính thời đại hay xảy gần không làm cho người đọc tin phục, văn thêm sức thuyết phục mà làm cho văn mang màu sắc tươi mang sức sáng tạo + Luận đầy đủ Luận văn nghị luận tối thiểu phải dùng đến ba bốn luận tiêu biểu đồng thời phải kết hợp với luận điểm để phân tích nghị luận cách có hiệu luận + Kết cấu chặt chẽ Việc xếp luận phải trọng đến phương pháp logic định Sự chồng chất tài liệu làm cho độ tin cậy sức thuyết phục luận bị giảm bớt làm cho kết cấu văn không chặt chẽ Phân tích đề lập ý Phân tích đề lập ý tiền đề sở làm văn nghị luận Bố cục đoạn, ngôn ngữ biểu đạt, nội dung tình cảm, tất điều dựa vào Có thể nói, tham khảo đề tốt, lập ý tốt, văn coi thành công nửa Phân tích đề lập ý tốt làm thông qua bước - Phân tích đề bài, tìm trọng tâm đề Đối với đề văn mà nói phải ý phân tích kết cấu ngữ pháp đề mục, phán đoán trọng điểm, tìm chuẩn trọng tâm Lấy đề “ Phải học cách quan tâm người khác ” làm ví dụ, trọng điểm nên viết “ quan tâm người khác” góc độ “ phải học ” mà viết Còn chủ đề “ trước tiên phải lo cho lo thiên hạ, sau thiên hạ vui mà vui ” lại phải xác định rõ ràng “ lo lắng ” “ vui vẻ ” trọng không thiên lệch bên - Xác định rõ mối quan hệ làm bật trọng điểm Đối với loại văn mà có hai khái niệm hai khái niệm trở lên cấu thành khái niệm tồn mối quan hệ khác điều kiện, nhân quả, mục đích, song song, chuyển ngoặt Nhất định phải phân tích tỉ mỉ, xác định rõ ràng trọng điểm Quan hệ điều kiện đề “ có mạch nguồn khiến có dòng suối xanh ” Quan hệ nhân đề “ gần gũi hay xa cách tình cảm nhận thức vật ”, nhận thức vật chịu ảnh hưởng gần gũi hay xa cách tình cảm Vì thân mà yêu mà bảo vệ, xa cách mà hoài nghi mà oán hận Quan hệ mục đích đề “ hồi tưởng suy ngẫm đời sống học sunh cấp ba ”, hồi tưởng để gợi lên suy ngẫm, suy ngẫm có trọng điểm Quan hệ song song để “ tin vào thân lắng nghe ý kiến người khác ”, hai vế song song, mang tầm quan trọng Quan hệ chuyển ngoặt trọng điểm đề “ vượt dự tính hợp tình hợp lí ” Một số phương pháp mở thường gặp văn nghị luận xã hội Một văn nghị luận có phần mở ấn tượng nhanh lấy cảm tình người đọc Dưới số cách mở thường gặp - Mở đầu danh ngôn Mở văn trực tiếp dùng câu nói người tiếng coi luận điểm toàn Ví dụ Đề bài “ Ai biết ích lợi việc đọc sách, nhiên biết cách chọn sách để đọc, để “ mở sách có ích ” Anh/chị viết văn ngắn trình bày quan điểm vấn đề Học sinh mở sau Nhà văn tiếng Nga Gorki nói “ Sách thang để tiến xã hội ” Sách thiên đường trí thức, thức ăn tinh thần nhân loại, kim nam người “ Trong sách có giấu vàng ” Tri thức sách vô vô tận, đọc sách để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, mở rộng tầm nhìn, giúp có kĩ sáng tạo, thực mục tiêu đời Điều quan trọng việc đọc sách nhiều hay mà chất lượng điều quan trọng Một sách hay giúp người đọc gợi mở tư nhạy bén, kiến giải tinh thần, rèn luyện tư tưởng đạo đức cao thượng hình thành nhân cách người Còn loại sách có nội dung xấu không nên đọc Về mặt Ph Awnghen gương sáng cho noi theo Vì vậy, năm mười chín tuổi ông tinh thông mười hai thứ tiếng Sau làm việc xã hội ông trì thói quen đọc sách để tiếp thu tri thức Cuối ông trở thành người có tri thức uyên thâm, sau trở thành nhà khoa học nghiên cứu đưa vận động chủ nghĩa cộng sản quốc tế, đóng góp lớn lao vào việc xây dựng hoàn thiện lí luận chủ nghĩa cộng sản … - Mở đầu cách thẳng vào vấn đề Ở phần mở văn bày mà dẫn luận điểm Ví dụ văn “ nói khí phách ” trực tiếp đưa luận điểm “ Người Việt Nam có khí phách ” Như vậy, luận điểm vừa đúc kết rõ ràng lại làm bật trọng tâm Cách mở vừa đưa vấn đề lại vừa thể luận điểm vô trực tiếp Ví dụ Đề bài Nói chờ đợi, Đức Gieessu có câu “ Hãy thắt lưng cho gọn thắp đèn cho sẵn Hãy làm người đợi chủ ăn cưới về, để chủ vừa tới gõ cửa, mở ” Anh/chị viết văn ngắn chủ đề “ giá trị chờ đợi ” Học sinh mở sau - Sự chờ đợi đắng cay thực không đắng … - Học mà cốt để làm quan, tư tưởng Nho gia Từ Cổ Chí Kim, có vị quan có tài thực tình nguyện mai danh ẩn tích, quy ẩn điền viên ? Không có! Lí Bạch - người tiếng hào phóng khái - có câu thơ “ Ngẩng mặt nhìn trời cười lớn cửa/ Lẽ người lều cỏ” … Đây lời cảm thán mà ông lên bị triệu vào phủ Quan Phong Có thể thấy, ông hi vọng làm quan, thấy ông chờ đợi lâu Văn nhân lịch sư Trung Quốc, có người quy ẩn ? Nhân cách tín điều họ khiến họ cách lòng với tục Thời kì đầu xã hội đại, bình minh mà đợi chờ gian khổ đến ? Bỏ hai mươi năm, cuối có kết Điều mà nhìn thấy, hình bóng có vội vàng, mông lung, đương nhiên có anh dũng tiến lên Cái khác chưa bàn đến, mà nói đến cấp Một năm cấp giống phấn đấu người để có kết làm thân mãn nguyện … - Mở cách dẫn nội dung câu chuyện Có nghĩa mở đầu văn kể câu chuyện nhỏ trước, sau từ câu chuyện dẫn điều cần nghị luận đồng thời lấy câu chuyện mà kể phần mở đầu làm cho toàn văn nghị luận Điểm hay phương pháp làm cho văn có lí có tình, nghị luận có gốc Như làm cho văn lấy việc mà nói lí, tính mục tiêu lớn làm tăng sức thuyết phục văn Xem ví dụ đây Ví dụ Đề bài Điều then chốt thành công chỗ có mục tiêu, tất khác thứ yếu Trong sống, việc đặt mục tiêu rõ ràng cho thân giúp ích cho thành công Nắm bắt rõ ràng mục tiêu phương hướng thân mở đầu tất thành tựu vĩ đại Nếu tâm hồn mục tiêu rõ ràng, sức lực tinh thần hao tổn vô ích, 10 giống người có cưa điện với tính tốt nhất, phải làm rừng sâu Anh/chị viết đoạn văn ngắn chủ đề “ xác định mục tiêu kiên trì đến ” Học sinh mở sau Tôi nghe cô giáo chủ nhiệm lớp bình luận câu chuyện, ghi chép lại Con báo vùng thảo nguyên bao la thuộc châu Phi chạy với tốc độ nhanh, lúc đuổi theo thỏ rừng, mà cách mục tiêu 100m, không hứng thú mà tha cho thỏ Nhưng thay vào hươu, tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng, đến tận đuổi kịp hươu, giả sử bên cạnh lúc có thêm hươu khác gần với nữa, cần với tay nắm tới được, không bắt đứng bên cạnh đó, mà đuổi theo hươu chạy nhanh Tại lại ? Nguyên nhân quan trọng phải chạy thêm 100m tóm thỏ hoang, lượng mà thu không làm thỏa mãn nó, thật khập khiễng kho so sánh lượng thỏ với lượng báo, bắt hươu, ăn vài ngày nên tâm theo đuổi mục tiêu Nó không quan tâm đến hươu bên cạnh chưa bắt đầu chạy, chưa tiêu hao lượng, giả sử đuổi theo hươu bên không tóm được, đến đối tượng hươu phía trước không theo kịp Nhưng tiếp tục theo đuổi mục tiêu ban đầu, tình trạng tiêu hao lượng chắn bắt hươu Từ câu chuyện hiểu rõ làm việc cần phải suy tính trước sau, thực việc học tập giống vậy, cần tìm cách thức tư toàn diện tất học nhiều kiến thức Biết kiến thức hữu dụng chung cho người thành kiến thức riêng kiên trì thực hiện, đồng nghĩa với việc ta thu nhiều điều mẻ cảm thấy điều đáng để học hỏi Ngược lại thứ mà ta tốn nhiều thời gian mà chẳng thu kết tốt nên vứt bỏ, tiết kiệm dành thời gian học thứ có ích, nên việc học tất có ích Tôi tin người làm điều ! - Mở phương pháp so sánh Có nghĩa mở đầu văn thông qua so sánh để đưa lí lẽ làm rõ việc 11 Ví dụ “ Trung Quốc Thiếu niên thuyết ” làm rõ luận điểm sau “ Người Nhật Bản nói đất nước Trung Quốc nước đế quốc cổ xưa rộng lớn, hai đất nước đế quốc rộng lớn Lời nói cách dịch theo lời nói người Tây Âu Than ôi! Đất nước Trung Quốc phải đất nước rộng lớn ? Lương Khải Siêu nói Lời nói có ý nghĩa ! Quả thực lòng ta cháy bỏng trái tim niên Trung Quốc ”… Mở đầu đoạn văn sử dụng cách so sánh cách khéo léo, không làm rõ khuynh hướng tình cảm tác giả, đưa trọng tâm văn cách tự nhiên, thông qua so sánh tường minh làm bật trọng tâm Như làm cho người đọc có cảm giác mẻ, thú vị Ví dụ Đề bài “ Vũ trụ có nhiều kì quan, kì quan tuyệt phẩm trái tim người mẹ ” Bernard Shaw Anh/chị viết văn ngắn chủ đề “ tình mẹ” Học sinh mở sau Tôi viết tình cảm thiêng liêng nhỏ bé vô Tôi viết lên câu thơ hình ảnh vầng trăng khuyết, vầng trăng khuyết dáng nằm nghiêng, giữ khuyết cho để ôm vòng lấy yêu thương, vầng trăng khuyết tôi, vầng trăng đẹp nhất, sáng nhất, ánh sáng nhẹ nhàng, hiền dịu tình mẫu tử mãi soi sáng cho suốt đời Với tôi, điều thuộc tình mẫu tử, bình thường thiêng liêng Tình mẫu tử tình thương yêu, hi sinh, chở che bao dung người mẹ Với tôi, không thật hiểu sâu sắc tình mẫu tử, cảm nhận tình cảm thiêng liêng sâu sắc Nếu bạn hỏi tình mẫu tử có lẽ trả lời bạn được, dùng đời để nói cho bạn biết thiêng liêng tình mẫu tử, kể câu chuyện câu chuyện người khác, biểu đạt cho bạn biết tình cảm tình cảm người khác … Đối với tôi, tình mẫu tử thiêng liêng cả! … Những yêu cầu ngôn ngữ văn nghị luận xã hội Một văn nghị luận xuất sắc không cần làm cho luận điểm mẻ, rõ ràng, luận thực tế, xác thực, luận chứng hợp lí mà phải có ngôn ngữ chọn lọc chuẩn xác, hình tượng, mang khí có logic chặt chẽ - Lời văn phải chọn lọc chuẩn xác Ví dụ “ Bàn cô đơn ” tác giả viết sau Có người cảm thấy cô đơn đường phố đông người, nỗi cô đơn thực sự, đau khổ diễn tả lời Ngược lại có người ồn 12 huyên náo cô đơn, diễn tả cô đơn cao nhất, triệt để Cô đơn trạng thái tự do, giới hạn tối cao trí tuệ, đất nước niết bàn, thoát tục Ý nghĩa thực cô đơn thể nội hàm văn hóa lớn, suy nghĩ tầng sâu tư tưởng, theo đuổi tìm cầu, trí tuệ, thoáng đạt Khi nỗi cô đơn đạt đến đỉnh cao lời nói nữa, không đợi phải than “ cô đơn quá! ”, cách không bệnh mà rên hòa vào hành động chủ thể mà gửi gắm - Ngôn ngữ phải giàu hình tượng Ví dụ văn viết “ thiên phú cần cù ” “ Thiên phú quà lúc thượng đế vui ban thưởng cho, đồng tiền vàng mà Gieessu bất cẩn đánh rơi, hấp dẫn mê làm cho người ta phải ngưỡng mộ, làm cho thân họ thu lợi Anh ta tốn chút công sức đạt được, người thực cầu thị phát huy nó, người hời hợt thưởng thức nó, kẻ hư vinh lợi dụng nó, người lười biếng muốn chiếm hữu Khi đến đến có muốn tránh không được, vô duyên với cầu dụng ” … Ở người ta ví “ thiên phú ” “ quà mà thượng đế lúc vui vẻ ban thưởng cho ”, “ đồng tiền vàng mà Gieessu bất cẩn đánh rơi ”, tức nói rõ thiên phú “ gặp mà cầu ”, lẽ phải nghiêng cần cù Lấy việc bình thường sống ngày để hình tượng hóa đạo lí thâm sâu, làm cho người đọc dễ chấp nhận mà làm cho văn thêm sinh động, hoạt bát hài hước - Ngôn ngữ phải có khí Ví dụ văn “ nên làm chim ưng hay làm ốc ” có viết rằng “Từ nghìn xưa xác bậc anh tài chăm ”, cần cù đá, nhóm lửa tự tin; cần cù lửa, đốt đèn lí tưởng; cần cù đèn, soi sáng đường đời; cần cù đường, cho ta hướng ngày mai thành công !” Vận dụng phương pháp liệt kê để chứng minh khí văn chương, tỏ rõ đầy đủ tầm quan trọng đức tính cần cù - Ngôn ngữ mang tính logic chặt chẽ Ví dụ văn “ cá tính thật ” viết “ cá tính dừng lại bề mặt ? ” Cá tính thời thượng, đại danh từ “ đẹp trai ”, “ngầu ” ? Không cá tính không thứ đó, mà quan trọng cá tính mang tính nội ! Không có cá tính nội cho 13 dù vẻ bề có đẹp lung linh hào nhoáng, không thực Bình hoa có đẹp không ? Thực bên trống rỗng Củ lạc vẻ sần sủi xấu xí bên hạt lại đầy Cá tính nội làm cho người khác cảm nhận đẹp thật Khi nói rõ cá tính thực sự, vận dụng tượng bề mặt cá tính nội để hình thành so sánh tường minh thái độ rõ ràng Các dạng nghị luận xã hội Dạng nghị luận tư tưởng, đaọ lý + Đề tài - Về nhận thức lí tưởng, mục đích sống - Về tâm hồn, tính cách lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn - Về quan hệ gia đình tình mẫu tử, tình anh em… - Về quan hệ xã hội tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn… + Cấu trúc triển khai tổng quát - Giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần nghị luận - Giải thích tư tưởng, đạo lý cần bàn luận từ ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng… - Bàn luận tư tưởng đạo lý Phân tích mặt Bác bỏ biểu sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận dẫn chứng từ đời sống văn học - Rút học nhận thức hành động tư tưởng, đạo lý + Một số đề tham khảo Đề 1 Hãy viết văn ngắn trình bày suy nghĩ anh chị quan niệm sau “Hỏi câu dốt lát Không hỏi dốt suốt đời” Danh ngôn phương Tây - Dẫn theo Từ điển danh ngôn Nguyễn Nhật Hoài Vũ Tiến Quỳnh *Các ý chính + Giải thích - Nội dung câu danh ngôn đề cập đến vấn đề nhận thức, hỏi hay không hỏi thân người gặp phải vấn đề nan giải - Có thể ta hỏi, ta có khả bị cho chưa đủ trình độ để giải đáp việc, chí bị xem dốt, dốt thoáng chốc sau ta có câu giải đáp đầy đủ vấn đề - Nếu sĩ diện không hỏi, thiếu thông suốt vấn đề đeo đẳng ta, có suốt đời 14 + Bàn luận quan niệm - Hỏi nhu cầu tất yếu người gặp phải vấn đề chưa thật rõ vượt qúa nhận thức - Mục đích việc hỏi để biết, giỏi Việc hỏi để hiểu biết nâng cao nhận thức cần xem việc bình thường cần thiết điều ta biết có giới hạn - Quan niệm cho hỏi vấn đề bị người khác cho trình độ thấp quan niệm không mặt khoa học lẫn nhận thức + Bài học nhận thức hành động - Câu danh ngôn giúp người nhận thức thêm vấn đề cần trao đổi để nâng cao kiến thức - Việc học nhà trường cần bổ sung liên tục việc người trao đổi với điều chưa rõ để tất rõ Đề 2 Hãy viết văn ngắn trình bày suy nghĩ anh, chị quan niệm Domat “Có ba điều để tạo nên hạnh phúc thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn trái tim sạch.” *Các ý chính + Giải thích - Ba yếu tố cần có để tạo nên sống hạnh phúc cho người sức khỏe ăn ngon, ngủ yên, hưởng thụ, … ; tinh thần khỏe khoắn, sáng suốt giúp người hoàn thành tốt công việc, góp phần làm nên thành công ; trái tim tâm hồn sáng, thể xác tinh thần yên ổn, an lạc + Bàn luận quan niệm - Quan niệm Domat đắn, khó lòng mà hạnh phúc thể ôm đau, tinh thần thiếu sáng suốt - Những quan niệm cho có đầy đủ vật chất có hạnh phúc cần có thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn có hạnh phúc… quan niệm chưa thỏa đáng Tất nhiên, nêu thêm vài yếu tố có khả dẫn người đến hạnh phúc cần hiểu quan niệm dẫn quan niệm hợp lý tích cực + Bài học nhận thức hành động Phải biết giữ gìn lành mạnh cho thể xác, tinh thần, tâm hồn có hạnh phúc Dạng nghị luận tượng đời sống + Đề tài 15 - Môi trường hiện tượng Trái đất nóng lên, thiên tai, ô nhiễm… - Ứng xử văn hóa lời cám ơn, lời xin lỗi, cách nói nơi công cộng… - Hiện tượng tiêu cực nghiện thuốc lá, bạo lực gia đình, học sinh đánh trường học… - Hiện tượng tích cực hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xây nhà tình nghiã, người tốt việc tốt… + Cấu trúc triển khai tổng quát - Giới thiệu tượng đời sống cần nghị luận - Nêu rõ tượng - Bàn luận tượng Chỉ nguyên nhân dẫn đến tượng Phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại Dùng dẫn chứng từ sống để chứng minh - Bày tỏ thái độ, ý kiến thân tượng + Một số đề tham khảo Đề 1 Anh chị nghĩ tượng số người chọn cách sống ngồi trông chờ may mắn đến với mình? *Các ý chính + Nêu tượng Trong xã hội ngày nay, có tượng số người chọn cho cách sống ngồi trông chờ may mắn đến với Họ lấy điều làm cho đời mình, thay cho việc sức học tập làm việc + Bàn luận tượng - Sở dĩ có tượng người, mong may mắn, thuận lợi đến với mình, Chờ đợi may mắn đến với tâm lí chung người đời ẩn chứa bất trắc không lường hết - Tâm lý trông chờ may mắn có mặt tích cực Nó trì người niềm vui, niềm hi vọng để sống - Nhưng thụ động trông chờ may mắn dễ thất bại vì may mắn yếu tố bên ta, không phụ thuộc vào ý chí mong đợi ta; may mắn đến với ta; may mắn dẫn đến thành công. + Bày tỏ thái độ , ý kiến tượng xã hội đó - Tôn trọng ước muốn đợi chờ may mắn số người quanh ta phải cần thấy tượng trông chờ vào may mắn tượng mang tính phiêu lưu, xác suất rủi ro cao 16 - Nên chờ đợi may mắn đến với đời người, phải phấn đấu, nỗ lực học tập công việc Bởi nỗ lực giúp người thành công - Xét mức độ may mắn làm việc tạo hội để may mắn có điền kiện đến với ta nhiều Đế 2 đề thi tuyển sinh đại học năm 2010 - khối C Như thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm cá nhân ăn mòn xã hội Từ ý kiến trên, anh chị viết văn ngắn trình bày suy nghĩ tinh thần trách nhiệm thói vô trách nhiệm người sống *Các ý chính + Giải thích ý kiến - Về nội dung, ý kiến đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm cần cảnh giác thói vô trách nhiệm; xuất phát từ cá nhân lại gây hậu to lớn toàn xã hội - Về thực chất, ý kiến cảnh báo vấn nạn đạo đức mang tính thời sự thói vô trách nhiệm hậu khôn lường + Luận bàn tinh thần trách nhiệm thói vô trách nhiệm người - Tình thần trách nhiệm Tinh thần trách nhiệm ý thức nỗ lực nhằm hoàn thành tốt phận Nó biểu cụ thể, sống động ba mối quan hệ cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội nhân với thân Tinh thần trách nhiệm phẩm chất cao đẹp, thước đo giá trị người; sở để xây dựng hạnh phúc gia đình; đồng thời tinh thần trách nhiệm góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy phát triển xã hội - Thói vô trách nhiệm Thói vô trách nhiệm biểu lối sống phi đạo đức, thể ý thức hành động không làm tròn phận xã hội, gia đình thân, gây nên hậu tiêu cực Hiện nay, nhiều nguyên nhân khác nhau, lối sống phổ biến, trở thành vấn nạn xã hội Tác hại thói vô trách nhiệm làm băng hoại đạo đức người; gây tổn hại hạnh phúc gia đình; gây tổn thất cho cộng đồng, kìm hãm phát triển tiến xã hội 17 + Bài học nhận thức hành động - Bản thân cần nhận thức sâu sắc tinh thần trách nhiệm thước đo phẩm giá người; không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm lĩnh vực đời sống - Cần ý thức rõ tác hại có thái độ kiên đấu tranh với biểu thói vô trách nhiệm xã hội Dạng nghị luận vấn đề xã hội tác phẩm văn học + Đề tài Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc đặt tác phẩm văn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa lấy từ hai nguồn tác phẩm văn học học chương trình câu chuyện nhỏ, văn văn học ngắn gọn mà HS chưa học + Cấu trúc triển khai tổng quát - Phần một Phân tích văn hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện để rút ý nghĩa vấn đề hoặc câu chuyện - Phần hai trọng tâm Nghị luận phát biểu ý nghĩa vấn đề xã hội rút từ tác phẩm văn học câu chuyện + Đề tham khảo Đề bài Câu chuyện bốn nến Trong phòng tối có bốn nến cháy Xung quanh thật yên tĩnh đến mức nến nghe tiếng thầm Ngọn nến thứ nói Tôi than hòa bình Các nơi Tôi thực quan trọng cho người Ngọn nến thứ hai lên tiếng Tôi thân lòng trung thành Hơn tất cả, người phải cần đến Đến lượt nến thứ ba nói Tôi thân tình yêu Tôi thực quan trọng, thử xem tình yêu đời ? Đột nhiên cánh cửa mở toang Một cậu bé chạy vào phòng, gió lùa vào làm tắt ba nến - Tại ba nến lại tắt – cậu bé sửng sốt nói òa lên khóc Lúc nến thứ tư lên tiếng Đừng lo lắng cậu bé, cháy thắp sáng nến niềm hi vọng Lau giọt nước mắt đọng lại, cậu bé thắp sáng nến vừa tắt Ngọn lửa hi vọng theo bạn suốt đời Theo Cẩm nang giáo dục kỹ sống cho HS trung học 18 Hãy viết văn nghị luận Khoảng 600 từ trình bày suy nghĩ anh chị sau đọc câu chuyện Các ý chính + Giới thiệu giải thích vấn đề cần nghị luận -Tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện Trong phòng tối có bốn nến cháy Ba nến tranh cho quan trọng thân hòa bình, lòng trung thành tình yêu Khi cậu bé vào phòng gió làm tắt ba nến Cậu bé òa khóc Ngọn nến thứ tư lên tiếng an ủi cậu bé – nến hi vọng Cậu bé thắp lại nến vừa tắt - Câu chuyện nêu lên ý nghĩa nhân sinh sống Hòa bình, lòng trung thành, Tình yêu quan trọng lí giải quan trọng đó Nhưng niềm hi vọng quan trọng đánh điều đó, gặp khó khan hay thất bại đường đời, có niềm hi vọng người làm điều lớn lao , giúp người vượt qua khó khăn sống + Bàn luận - Câu chuyện thể quan niệm đắn có ý nghĩa học nhân sinh - Quan niệm không với người, thời mà có ý nghĩa thời đại, hoàn cảnh, động lực giúp người sống tốt hơn, có ý nghĩa - Trong sống người gặp thuận lợi , thành công Điều quan trọng phải biết đứng dậy sau vấp ngã, thất bại Để làm điều thắp lên lửa hi vọng để lửa hi vọng theo ta suốt đời - Nếu trái tim người cháy lên lửa hi vọng tìm điều tốt đẹp sống hòa bình , lòng trung thành tình yêu - Nhưng hi vọng mà không gắn với hành động cụ thể, thiết thực hi vọng viễn vông, hão huyền khó đạt thành công - Thực tế hiên cho thấy, có phận người, đặc biệt niên có lối sống buông thả, thiếu kỹ gặp chút khó khăn nản chí, nản lòng, gặp thất bại bi quan, tuyệt vọng Đó biểu lối sống tiêu cực + Bài học nhận thức hành động - Hãy giữ lửa niềm hi vọng động lực giúp người vượt qua khó khăn, thất bại để đến thành công sống - Biến niềm hi vọng thành hành động cụ thể, thiết thực 19 - Phê phán lối sống buông xuôi, bi quan, yếm Tổ chức thực kết Tổ chức thực hiện - Tổ chức thực khối lớp, 11C1, 11C3, 11C4 - Thực tập trung đội tuyển học sinh giỏi tham gia thi HSG cấp trường dành cho Khối 11 Kết quả - Khoá học 2014 - 2015 lớp tổng số 125 HS có em xếp loại giỏi, 28 em xếp loại khá, 78 em xếp lại TB - Khoá học 2015 -2016 lớp tổng số 125 HS có em xếp loại giỏi, 37 em xếp loại khá, 69 em xếp lại TB Đội tuyển học sinh giỏi môn văn tham dự kì thi học sinh giỏi cấp trường dành cho HS K 11 đạt giải/ học sinh tham dự có 1ba giải khuyến khích III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Cùng với rèn luyện kĩ năng, việc cung cấp kiến thức cho học sinh nêu cần thiết để học sinh làm tốt văn nghị luận xã hội Rèn luyện kỹ làm nghị luận xã hội rèn luyện cho học sinh nắm vững dạng đề, nắm vững thao tác lập luận bước triển khai luận điểm, luận chứng, luận cứ, áp dụng vào đề cụ thể để có viết tốt Đặc biệt người thầy cần có biện pháp để giúp HS ý thức việc học môn Ngữ văn thực hành làm văn Dù em có lựa chọn tương lai với ngành nghề em vận dụng tốt ngôn ngữ hoạt động giao tiếp XH KIẾN NGHỊ Hiện tư liệu liên quan đến nội dung thuộc phạm trù khoa học xã hội nhân văn thư viện nhà trường thiếu nhiều Đề nghị thư viện bổ sung thêm sách đặc biệt sách NLXH để học sinh giáo viên có điều kiện tham khảo, học tập Nhà trường cần hỗ trợ kinh phí cho học sinh để em photo văn cần thiết trình tự học XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 19 tháng năm 2016 Tôi xin cam đoan SKKN viết, không chép nội dung người khác 20 Hoàng Hữu Nghĩa 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO Nghị luận xã hội Phan Trọng Luận Nghị luận xã hội Bùi Thức Phước Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, lớp 11, lớp 12 sách giáo viên Ngữ văn lớp 10, lớp 11, lớp 12 Nhà xuất Giáo dục, Hà Nội năm 2011 Chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi 12 Trương Văn Quang Đề thi THPT Quốc gia hướng dẫn chấm qua năm 22 ... KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Cùng với rèn luyện kĩ năng, việc cung cấp kiến thức cho học sinh nêu cần thiết để học sinh làm tốt văn nghị luận xã hội Rèn luyện kỹ làm nghị luận xã hội rèn luyện. .. tham khảo cho GV tổ chuyên môn tham khảo dạy NLXH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Một số biện pháp rèn luyện kỹ làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT - Các viết thực hành NLXH có chương trình THPT lớp... nhiệm xã hội Dạng nghị luận vấn đề xã hội tác phẩm văn học + Đề tài Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc đặt tác phẩm văn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa lấy từ hai nguồn tác phẩm văn học học - Xem thêm -Xem thêm Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT , Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT ,
Tài liệu "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" có mã là 233252, file định dạng doc, có 24 trang, dung lượng file 304 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Luận văn đồ án > Sư phạm. Tài liệu thuộc loại BạcNội dung Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9Trước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 24 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9Nếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9Trên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Rèn luyện kĩ năng, hoặc là Rèn luyện kĩ năng tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Rèn luyện kĩ năng viết bài, hoặc là Rèn luyện kĩ năng viết bài nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như Ren luyen ki nang, Ren luyen ki nang viet, Ren luyen ki nang viet bai, Ren luyen ki nang viet bai nghi, đều cho ra kết quả chính xác. viết nghị tác phẩm luyện Rèn Rèn luyện nghị luận năng luận viết bài Rèn luyện kĩ Rèn luyện sinh cho học lớp Rèn luyện kĩ năng viết văn học cho văn học kĩ năng phẩm 9 Rèn luyện kĩ năng kĩ Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị Rèn luyện kĩ năng viết bài sinh lớp học bài tác Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" Tài liệu vừa xem Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị Rèn luyện kĩ năng viết Rèn luyện Rèn luyện kĩ năng Rèn luyện kĩ năng viết bài Rèn luyện kĩ
Ngày đăng 10/10/2013, 0911 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội DO CHỌN ĐỀ TÀI Nhà trường phổ thông của chúng ta từ nhiều năm nay đã chú ý dạy cho học sinh cách sử dụng đúng các từ và viết đúng các câu. Việc làm này đã thu được kết quả nhất định. Học sinh của chúng ta viết được nhiều câu đúng và không ít câu hay. Tuy viết được nhiều câu đúng về cấu trúc ngữ pháp và cả những câu văn hay nhưng học sinh vẫn không viết được những đoạn văn hay hoặc bài văn tốt. Thông qua kinh nghiệm giảng dạy hàng năm, tôi thấy rằng Có nhiều học sinh khi đặt câu theo mô hình ngữ pháp, viết những câu rời, các em đều đặt được và viết đúng, nhưng chính những em đó khi làm một bài văn, mặc dù những câu trong bài viết không sai nhưng nhìn chung cả bài hoặc từng đoạn văn thiếu sự gắn bó hữu cơ, bài văn chỉ là tập hợp của những câu đúng. Tập làm văn là một môn học mang tính chất thực hành tổng hợp giữa các phân môn tiếng việt với phân môn văn học của chương trình ngữ văn. Khi làm một bài tập làm văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức tiếng việt để viết đúng chính tả, dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp phù hợp với phong cách văn bản và diễn đạt mạch lạc nhằm đạt được yêu cầu của đề bài. Ngoài những kiến thức và kĩ năng ngữ văn, khi làm bài tập làm văn, học sinh còn phải huy động năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống và khả năng tư duy của mình để nội dung bài làm có được những nét tinh tế, những vẻ sinh động và một phong cách riêng. Tập làm văn là một phân môn có vị trí rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn thông qua hệ thống các bài tập tạo lập văn bản cũng như thực hành sử dụng tiếng Việt. Chương trình ngữ văn THCS đã Trang 1 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội có nhiều đổi mới so với chương trình chỉnh lí 1995. Với quan điểm chú trọng tới việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng thực hành tạo lập văn bản nói và viết, phân môn tập làm văn đã xây dựng nội dung theo cấu trúc đồng tâm, có lăp lại nâng cao ở các lớp khác nhau. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các em trong việc nâng cao khả năng nhận thức và kĩ năng, kĩ xảo thực hành tạo lập các kiểu văn bản. Mỗi bài tập làm văn có thể coi là một “tác phẩm nhỏ” của học sinh. Tác phẩm ấy phản ánh khá rõ ràng nhận thức tình cảm của học sinh đối với vấn đề văn học và cuộc sống. Nó cũng phản ánh khá rõ năng lực và tư duy, trình độ ngôn ngữ và một phần cá tính của học sinh. Là một người quản lý, một giáo viên dạy văn - vừa làm công tác kiểm tra vừa làm công tác giảng dạy, tôi thực sự không yên tâm trước nhiều cách nghĩ và cách cảm nhận của học sinh qua bài viết của mình. Có những em bê nguyên si bài văn hay, có những em lắp ghép từ những mảnh vụn mà các em đã nhặt nhạnh được để tạo một bài văn thiếu logic. Nguyên nhân từ đâu? Hiện nay có khá nhiều sách tham khảo, những bài văn hay, những bài văn mẫu tràn ngập trên thị trường. Dường như ở mỗi em học sinh ít nhất cũng có được vài đầu sách làm “bảo bối” cho riêng mình. Và khi đề tập làm văn cô giáo ra trùng với những bài văn mẫu, thì các em cũng chẳng ngần ngại gì mà không chép. Để giáo viên khó phát giác việc sao chép, các em đã trích góp nhặt từ nhiều bài văn mẫu thế là không khéo lại “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Xuất phát tư thực tế đó, tôi nghĩ việc sao chép của học sinh một phần do lỗi chúng ta. Mỗi giáo viên chúng ta phải làm gì để khắc phục tình trạng đó. Các nhà giáo dục học cho rằng Học trò ngày nay không còn là chiếc “bình chứa” để thầy “rót” kiến thức vào nữa, mà các em là “ngọn lửa”. Việc dạy của thầy phải làm sao tiếp cho “ngọn lửa” bùng cháy lên niềm khát vọng chiếm lĩnh kiến thức, phải kiến tạo cho học trò một “con Trang 2 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội đường” để các em tự học. Cần có trách nhiệm rèn cho các em có thói quen vận động trí óc khi gặp một vấn đề cần tư duy. Cần rèn cho học sinh có được những kĩ năng kĩ xảo khi làm bài. Qua nhiều năm thử nghiệm tôi nhận thấy rằng Để làm tốt một bài văn việc đầu tiên các em cần hiểu rõ đặc trưng của từng phương thức biểu đạt, trên cơ sở đó các em phải thiết lập được dàn ý của bài viết. Nếu chúng ta định hướng cho học sinh làm những yêu cầu trên thì có lẽ các em sẽ tự tin trong khi viết bài. Tôi đã thực hiện và thu được một số kết quả đáng kể, sau đây là một vài kinh nghiệm nhỏ, tôi muốn cùng trao đổi với tất cả các anh chị đồng nghiệp, với những người đã từng trăn trở trước những bài viết của học sinh. Rất mong sự đồng cảm, sẻ chia và trao đổi . B. PHẠM VI ĐỀ TÀI - Trong chương trình ngữ văn THCS các em được làm quen với 6 phương thức biểu đạt Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận , hành chính – công vụ. Đối với kiểu bài tự sự, miêu tả, biểu cảm phần nào các em vẫn thể hiện được cảm xúc của mình qua bài viết, nhưng để đánh giá, nhận định một vấn đề trong xã hội, trong cuộc sống thì khá nhiều em còn lúng túng. Bởi nghị luận xã hội là một lĩnh vực rất rộng Từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng trong đời sống đến luận bàn những vấn đề chính trị, chính sách, từ những vấn đề đạo đức, lối sống đến những vấn đề có tầm chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí…Trong phạm vi tập làm văn ở nhà trường bậc THCS, học sinh được làm quen kiểu bài văn nghị luận xã hội ở mức độ thấp Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí. Trong cấu trúc chương trình sách giáo khoa Ngữ văn có các tiết + Tiết 99 Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. + Tiết 100 Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. Trang 3 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội + Tiết 108 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí. + Tiết 112 Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí. - Trong khuôn khổ bài viết có hạn tôi chỉ dừng lại giới thiệu và minh họa cách tổ chức rèn cho học sinh kĩ năng viết một bài nghị luận xã hội. Đề tài này có thể vận dụng trong những tiết học thuộc cấu trúc chương trình của Bộ hoặc dạy vào tiết chủ đề tự chọn môn tập làm văn. C. VẤN ĐỀ ĐỀ CẬP TRONG ĐỀ TÀI - Giới thiệu khái quát về thể văn nghị luận - Cách làm bài văn nghị luận - Minh họa bằng những đề văn cụ thể D. NỘI DUNG ĐỀ TÀI I/ Khái quát về văn nghị luận nghị luận được ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa văn nghị luận có từ thời Khổng Tử. Ở nước ta văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử của công cuộc dựng nước và giữ nước. Tác phẩm “Chiếu dời đô” 1010 của Lí Công Uẩn, “Cáo bình Ngô” 1428 của Nguyễn Trãi, “Chiếu cầu hiền” 1788 của Nguyễn Trường Tộ,“Hịch tướng sĩ” 1825 của Trần Quốc Tuấn .và đặc biệt thế kỉ XX, văn nghị luận phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ mà tiêu biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với “Tuyên ngôn độc lập” 1945 và với biết bao nhà văn viết nghị luận nổi tiếng sau này Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Thai Mai . Văn nghị luận là loại văn viết ra để phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức đánh giá thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng. Nếu tác phẩm văn học nghệ thuật phát biểu ý kiến bày tỏ thái độ cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm thì văn nghị luận điễn đạt bằng những mệnh đề, phán đoán lôgic thuyết phục. Từ những điều nói trên, có thể Trang 4 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội nêu khái niệm về văn nghị luận Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết người nói đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận thuyết phục được người nghe. Ví dụ Hãy thử so sánh hai đoạn văn sau đây Đoạn 1 “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao du thú vị ấy, không kể sức khoẻ được tăng cường, tính khí trở nên vui vẻ. Tôi thường thấy những kẻ ngồi trong các cỗ xe tốt chạy rất êm nhưng mơ màng, buồn bã, cáu kỉnh hoặc đau khổ; còn những người đi bộ lại luôn luôn vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả .” trích Đi bộ ngao du - Ru-xô Đoạn 2 “ . Nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe .” trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long. Ở đoạn văn 1 là đoạn văn nghị luận, tác giả dùng lí lẽ và dẫn chứng để nêu bật vai trò và tác dụng của việc đi bộ ngao du. Ở đoạn văn 2 là đoạn văn miêu tả, tác giả đã dùng những từ ngữ gợi cảm, phép nghệ thuật tu từ để miêu tả vẻ đẹp hết sức lãng mạn ở Sa Pa - xứ sở của những rặng đào. 2. Đặc trưng của văn nghị luận Văn nghị luận được xây dựng trên cơ sở của tư duy lôgíc. Nhiệm vụ của bài văn nghị luận là phát biểu dưới hình thức các luận điểm. Luận điểm là linh hồn của bài viết. Luận điểm đúng đắn, chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục. Trong văn nghị luận, mỗi đoạn văn có một kết cấu riêng, chúng thường mang bóng dáng một trong những mô hình cấu trúc tổng - phân – hợp, diễn dịch, quy nạp .Ở cấp độ liên câu các câu cũng được sáp xếp theo một trật tự tuyến tính. Nếu trật tự các câu không phù hợp với trình tự lập Trang 5 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội luận thì tính logíc bị phá vỡ. Sức thuyết phục của một bài văn nghị luận trước hết toát ra từ một nội dung tư tưởng sâu sắc, từ hệ thống lí lẽ và luận chứng phong phú, xác đáng. Nhưng nếu nội dung sâu sắc, phong phú mà kết cấu không chặt chẽ, trình bày không rạch ròi gãy gọn, giữa các ý không có mối quan hệ lôgíc thì sức thuyết phục cũng bị giảm. Sự chính xác mạch lạc trong suy luận phải được thể hiện qua sự khúc chiết, chặt chẽ nhất quán, liên tục trong trình bày. 3. Một số dạng thức nghị luận trong chương trình làm văn THCS - Căn cứ vào nôi dung nghị luận thì văn nghị luận được chia làm 2 loại Nghị luận xã hội + Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Trình bày quan điểm, suy nghĩ, thái độ khẳng định hay phủ định, biểu dương hay phê phán về một sự việc nào đó xảy ra trong đời sống gia đình, học đường, xã hội . * Ví dụ - Suy nghĩ của em về tình trạng thanh thiếu niên ham mê trò chơi điện tử. - Một tấm gương vượt khó trong học tập. - Vấn đề bảo vệ môi trường. - Cảm nhận của em về cách ăn mặc của một số bạn ở tuổi mới lớn. + Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí Trình bày suy nghĩ, thái độ về một quan niệm tư tưởng, đạo lí, lối sống, văn hoá . định hình trong cuộc sống con người. Những quan niệm đó thường thể hiện dưới hình thức một ý kiếnn một nhận định, một đánh giá . có tính chất khuyên răn tục ngữ, ca dao, danh ngôn, nhận định .mang tính chân lí * Ví dụ - Nghị luận về đạo lí “Tôn sư trọng đạo”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Yêu nước thương nòi” - Bàn về sự tránh giành và nhường nhịn. Trang 6 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội - Ý nghĩa của tình yêu thương. - Đức tính khiêm nhường. - Suy nghĩ của em từ câu ca dao Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ nư nước trong nguồn chảy ra. Nghị luận văn học Trình bày những nhận xét, đánh giá thông qua việc cảm nhận, phân tích nhân vật văn học. Những ý kiến nhận xét xuất phát từ cách xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả ngoại hình, tính cách, hành động . hoặc những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. * Ví dụ - Vẻ đẹp và bi kịch của người phụ nữ trong văn học trung đại. - Vẻ đẹp của người lính bộ đội cụ Hồ qua ba thời kì chống Pháp, chống Mĩ, thời hoà binh qua ba bài thơ Đồng chí - Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật, Ánh trăng - Nguyễn Duy. - Chiếc lược ngà - Bi kịch về chiến tranh hay bài ca về tình phụ tử. - Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải. II/ Cách làm một bài văn nghị luận xã hội - Dường như khi giáo viên hỏi học sinh về lí thuyết các bước khi làm một bài văn nói chung và một bài nghị luận xã hội nói riêng các em đều định hình được 4 bước 1/Tìm hiểu đề và tìm ý ; 2/ Lập dàn ý; 3/ Viết bài ; 4/ Đọc lại bài viết và sửa chữa nhưng thực chất khi tiếp cận một đề tập làm văn đa phần là các em không tuân thủ các bước nói trên mà cố lắm thì tìm một vài ý cơ bản sau đó nháp phần mở bài rồi cắm cúi viết đến khi trống đánh hết giờ nộp bài. Chính vì vậy cho nên có những bài viết sa đà, lạc đề, diễn đạt lủng củng theo kiểu nghĩ gì viết nấy, không trau chuốt không gọt dũa…Trước thực trạng đó, tôi thường dành nhiều thời gian kiểm tra và rèn cho các em với những nội dung sau -Cho đề bài, yêu cầu học sinh phân tích đề bài và tìm ý cho đề bài đó hoặc lập dàn ý cho đề bài trên. Sau phần kiểm tra đó tôi thường cho các em Trang 7 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội nhận xét, trình bày trước lớp. Phần đa các em trình bày không đầy đủ hoặc phân tích đề rất sơ sài. Thậm chí có em không lập được dàn ý chi tiết. Có em trao đổi với tôi rằng Em viết một bài viết thấy dễ hơn nhiều khi phải lập một dàn ý, mặc dù chỉ gạch đầu dòng để xác định ý. Điều đó hoàn toàn không sai, bởi các em chưa có thói quen lập dàn ý. Qua việc kiểm tra hs tôi vận dụng tiết chủ đề tự chọn để hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề và lập dàn ý và tôi đã thực hiện như sau 1/ Phân tích đề và tìm ý Phân tích cho học sinh thấy tầm quan trọng của khâu phân tích đề + Mỗi đề văn nghị luận thường có những đặc điểm riêng về hình thức và nội dung, không đề nào hoàn toàn giống đề nào cho nên không thể sao chép bài làm thuộc đề này sang bài làm thuộc đề khác. Vì vậy trong quá trình làm bài văn nghị luận việc xác định yêu cầu của đề là công việc cần thiết. Tìm hiểu kĩ đề sẽ tránh được tình trạng lạc đề, thừa ý, thiếu ý…trong bài làm. Đề văn có nhiều dạng thức khác nhau tuy nhiên căn cứ vào nội dung và hình thức cấu tạo ta nhận thấy có những dạng đề sau - Đề trực tiếp Có kết cấu rạch ròi, đầy đủ gồm 2 bộ phận. Bộ phận A chứa đựng dữ kiện tiền đề. Bộ phận B chứa đựng điều đề bài yêu cầu, bộ phận này thường được diễn đạt dưới dạng một câu cầu khiến hãy phân tích; hãy chứng minh; Em hiểu thế nào? Cảm nhận của em - Đề tự do đề mở Là những đề bài không có quy định một cách cụ thể, chặt chẽ các yêu cầu về nội dung và hình thức cũng như phương hướng cách thức, mức độ phạm vi giải quyết. Do đó về mặt kết cấu, những đề này có đặc điểm là trong bộ phận A thường không có trích văn, bộ phận B các yêu cầu nêu lên không đầy đủ . Tất cả tùy thuộc vào vốn hiểu biết và trình độ nhận thức của người làm bài. * CÁC BƯỚC TÌM HIỂU ĐỀ a/ Bước 1 Đọc đề bài. Đây là bước cần thiết để có được những nhận định chung nhất, những dự cảm đầu tiên về nội dung làm bài và những Trang 8 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội phương hướng giải quyết vấn đề do đề bài nêu lên. b/ Bước 2 Phân tích, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận. - Nhận diện xem đề thuộc loại hình nào? Đề ttrực tiếp hay đề tự do. Phân tích đâu là dự kiện cho trước những tiền đề của tình huống có vấn đề - bộ phận A. Sau đó tìm hiểu những yêu cầu về nội dung và hình thức, phương hướng, cách thức, giới hạn giải quyết vấn đề bộ phận B - Phải tìm hiểu cặn kẽ ý nghĩa của những từ ngữ quan trọng, vai trò của các vế, các câu, phân tích quan hệ ngữ pháp và quan hệ lôgíc – ngữ nghĩa của chúng. Bắt đầu từ sự phân tích ý nghĩa trực tiếp của câu, chú trọng lời văn trích nếu có, tập trung chú ý vào những từ ngữ đầu mối then chốt và ngăn tách các vế trong câu văn để dễ phân biệt. Phải nghiền ngẫm, cố phát hiện cho hết ý nghĩa của các từ, nghĩa đen và nghĩa bóng Ví dụ minh hoạ Đề 1/ Tục ngữ có câu Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Nhưng có bạn nói Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào. Hãy chứng minh rằng câu tục ngữ và ý kiến của bạn em đều có khía cạnh đúng. - Nhận diện đề Đề trực tiếp. - Kiểu bài Nghị luận xã hội - Gạch chân các dữ kiện. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào. Đề đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết? đi – học nghĩa đen, nghĩa bóng - Thao tác nghị luận Chứng minh Câu tục ngữ và ý kiến của bạn em đều có khía cạnh đúng, và sử dụng lập luận giải thích để làm sáng tỏ vấn đề. - Nguồn tư liệu để dẫn chứng Thực tế cuộc sống, tấm gươngsáng qua sách vở. Đề 2 Nhà triết học người Anh Phơrăngxit Bêcơn có nói Tri thức là sức mạnh. Em hiểu câu nói đó như thế nào? Trang 9 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội - Nhận diện đề Đề trực tiếp. - Kiểu bài Nghị luận xã hội - Gạch chân các dữ kiện. Tri thức sức mạnh . Đề đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết? có tri thức, có sức mạnh - Thao tác nghị luận Giải thích, chứng minh - Dẫn chứng Thực tế cuộc sống. Đề 3 “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” M. Gorki - Nhận diện đề Đề tự do - Gạch chân các dữ kiện. - Thao tác nghị luận Giải thích, Chứng minh - Nguồn tư liệu để dẫn chứng Thực tế cuộc sống, việc thực, người thực được lưu lại qua sách vở Tìm ý - Để lập ý cho bài văn nghị luận ta có thể dựa vào các căn cứ sau a/ Về nội dung, đề bài bao giờ cũng chỉ rõ vấn đề cần nghị luận là gì, từ đó giúp ta xác định được phương hướng lập ý. Chú ý giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng. b/ Xác định luận điểm. Luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận. Luận điểm thể hiện rõ quan điểm, chủ trương đánh giá của người viết. Luận điểm của bài văn được thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn, là những phán đoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định. c/ Mở rộng vấn đề. Bàn luận dựa trên cơ sở lập trường đạo đức cách mạng * Ví dụ minh họa Đề 1 Lập ý cho đề bài văn nghị luận sau Nhà triết học người Anh Phơrăngxit Bêcơn có nói Tri thức là sức mạnh. Em hiểu câu nói đó như thế nào? * Tìm ý - Giải thích câu nói nổi tiếng và làm sáng tỏ nội dung câu nói đó. Câu nói có 2 vế Tri thức và sức mạnh. Trang 10 [...]... sáo mòn công thức Phần kết bài không nên viết dài, dễ lan man trùng lặp với phần trên Nên viết cô đúc, súc tích Trang 17 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội * Một số kết bài thường gặp * Một số dạng kết bài Dạng tổng hợp, tóm lược những ý chính đã trình bày ở phần thân bài Đây là cách kết bài dễ làm nhất thường gặp trong bài tập làm văn Viết phần kết bài của đề bài sau Em hiểu thế nào về... vận dụng các hiểu biết lí thuyết vào cuộc sống, không ngừng rrèn luyện kĩ năng lao động Mặt khác, cũng cần khắc phục lề lối làm việc, ra sức học hỏi lí Trang 18 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội luận khoa học và làm việc theo phương pháp khoa học để nâng cao năng xuất lao động, phát triển kĩ năng thực hành có ý thức, có kế hoạch Kết bài Tóm lại câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen có mặt... với mô hình quy nạp Có khi đoạn văn không có câu chủ đề Trong trường hợp này, chủ đề của đoạn văn được ngầm hiểu Trang 16 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội qua việc khái quát ý của tất cả các câu Sau mỗi đoạn văn phải giải quyết trọn vẹn một đề mục Những chỗ xuống dòng thích hợp rrất cần cho một bài làm Giúp cho bài văn sáng sủa, mạch lạc Trong quá trình làm bài cần lưu ý vận dụng phép liên... việc làm dàn ý có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàn diện hơn để điều chỉnh hệ thống luận điểm Lập dàn ý sẽ tránh tình trạng bỏ sót Trang 11 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội những ý quan trọng hoặc tránh những ý thừa - Khi có dàn ý cụ thể người viết chủ động phân chia thời gian cho hợp lí Tránh tình trạng bài làm mất cân đối “đầu voi đuôi chuột” Cấu trúc của một dàn ý bài nghị luận xã hội. .. gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn văn bản - Mở bài rõ ràng, hấp dẫn tạo được sự hứng thú người đọc và Trang 14 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội thường báo hiệu một nội dung tốt + Chức năng của phần mở bài Nó phản ánh được yêu cầu cơ bản của đề bài Nó giới thiệu nêu vấn đề trung tâm mà bài nghị luận đề cập và giải quyết, nó xác định phương... Thực trạng của vấn đề cần nghị luận - Nguyên nhân dẫn đến thực trạng xã hội ấy - Hậu quả hoặc kết quả của vấn đề xã hội đó - Biện pháp khắc phục hoặc giải pháp cho sự phát triển xã hội * Đối với kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí - Giải thích ngắn gọn luận đề - Chứng minh giải thích, bình luận từng luận điểm theo mô hình sau I Luận điểm 1 1 Luận cứ 1 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các... tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý 2 Luận cứ 2 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2 + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý II Luận điểm 2 Trang 12 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội 1 Luận cứ 1 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2 + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý 2 Luận cứ 2 Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng +Dẫn.. .Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội - Luận điểm 1 Tìm hiểu tri thức là gì, tại sao tại sao tri thức là sức mạnh - Luận điểm 2 Con người ta khi chưa có tri thức và không có tri thức thì tình trạng như thế nào? Khi có tri thức rồi thì trở thành con người như thế nào? - Luận điểm 3 Câu nói đặt ra nhiệm vụ gì? + Đối với bài văn nghị luận, khi tìm ý chúng ta phải biết... giới tự nhiên Sản phẩm của văn minh nhân loại - Là sản phẩm tinh thần Kết quả của lao động trí tuệ Giúp ta hiểu biết lẽ phải - Là người bạn tâm tình gần gũi thần phong phú Làm cho cuộc sống tinh + Luận điểm 2 Sách mở rộng những chân trời mới Sách giúp ta hiểu biết những kiến thức Trang 13 Về khoa học xã hội Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội Về khoa học tự nhiên + Luận điểm 3 Vì sao ta cần... lập dàn ý, dường như không biết xác lập luận điểm Khi viết bài, có khi cả phần thân bài các em chỉ viết một đoạn văn, ý nọ chồng ý kia, mắc rất nhiều lỗi diễn đạt Qua thời gian vận dụng cách rèn kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài, kết quả đạt khả quan hơn rất nhiều Tôi vận dụng kĩ năng này không chỉ ở kiểu bài nghị luận xã hội mà ở tất cả các kiểu bài có trong chương trình học Trên lớp, . Tiết 100 Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. Trang 3 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội + Tiết 108 Nghị luận về một vấn. ngừng rrèn luyện kĩ năng lao động. Mặt khác, cũng cần khắc phục lề lối làm việc, ra sức học hỏi lí Trang 18 Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội luận - Xem thêm -Xem thêm rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội, rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội,
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận cụ thể như sau 1. Đề văn nghị luận và kỹ năng tìm hiểu đề. Trước đây đề văn nghị luận ở chương trình cũ, thường có mệnh lệnh "Hãy chứng minh..." , "Hãy phân tích...", "Hãy giải thích..." Cách ra đề như vậy là cần thiết, song nhiều khi không tránh khỏi hạn chế cách làm của học sinh vào một phương thức một thao tác nghị luận, trong khi trên thực tế học sinh có thể và cần phải sử dụng kết hợp nhiều thao tác để làm bài. Hiện nay cách ra đề đa dạng hơn, mở hơn, tức là chủ yếu đề chỉ nêu vấn đề của bài làm, như vậy học sinh sẽ có cơ hội trình bày ý kiến của mình được mở hơn, không gò bó trong một thao tác làm bài cụ thể. Ví dụ như một số đề bài mở như sau - Lối học "tủ" học "vẹt". - Không thể sống thiếu tình bạn. - Thời gian là vàng. - Hình tượng nhân vật chị Dậu trong "Tức nước vỡ bờ” trích "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố. - Tình yêu quê hương trong bài "Quê hương" của Tế Hanh. Đọc các đề bài trên, ta thấy ngoài vấn đề nghị luận mà đề bài nêu ra, đề bài còn cho biết tính chất của đề ra. Đề có thể mang tính chất ca ngợi phê phán, tranh luận, phân tích hoặc khuyên nhủ. Mỗi tính chất sẽ quy định cách viết giọng điệu lời văn ,...thích hợp. Do đó, tôi cho học sinh đọc kỹ đề bài, suy nghĩ và xác định chính xác vấn đề và tính chất của vấn đề, tránh lạc đề, xa đề. * Để rèn kĩ năng này, tôicho học sinh bằng các bài tập sau * Dạng bài tập 1 Nhận diện đề thông qua so sánh sự khác nhau của các đề bài Ví dụ Đề 1 Suy nghĩ về truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao. Đề 2 Nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là một nông dân nghèo bất hạnh, nhưng có những phẩm chất trong sáng đẹp đẽ. Dựa vào tác phẩm "Lão Hạc" em hãy chứng minh nhận xét trên. Đề 3 Về hình tượng nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Đề 4 Suy nghĩ về nghệ thuật xây dựng nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Bốn đề bài trên đều xoay quanh tác phẩm "Lão Hạc" của Nam Cao. Tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ra sự khác nhau về vấn đề nghị luận và hình thức lập luận. Tuy nhiên tôi chú ý cho học sinh nắm được trong một bài văn nghị luận người viết thường vận dụng nhiều thao tác nghị luận, kỹ năng giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh... . Và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác kỹ năng đó. Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia. Nhưng với yêu cầu cụ thể giới hạn của một đề bài cụ thể , tôi yêu cầu các em cần xác định chính xác hình thức lập luận nào là chủ yếu. Từ đó các em có định hướng làm bài đúng với yêu cầu của đề ra và làm nổi bật đặc trưng của từng hình thức lập luận. Ví dụ + Văn chứng minh Đặc trưng là hệ thống các dẫn chứng, tiêu biểu toàn diện chính xác phù hợp với vấn đề kết hợp với lý lẽ. + Văn giải thích Đặc trưng là các lý lẽ giảng giải làm rõ các khía cạnh của vấn đề có dùng dẫn chứng nhưng ít. + Trình bày cảm nhận, suy nghĩ Đặc trưng của bài viết là nêu ra các ý kiến đánh giá nhận xét, phân tích - bày tỏ thái độ của người viết với vấn đề nghị luận. * Dạng bài tập 2 Rèn luyện kỹ năng cho học sinh nhận biết yêu cầu hình thức lập luận. Ví dụ Cho các đề bài sau Đề 1 Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn là một trong những nội dung tư tưởng chính của văn học trung đại Việt Nam. Dựa vào các văn bản "Chiếu dời đô" của Lý Công Uẩn; "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn và "Nước Đại Việt ta" của Nguyễn Trãi, em hãy chứng minh nội dung trên. Đề 2 Hình tượng người nông dân trước Cách mạng tháng Tám hiện lên với những phẩm chất vô cùng đẹp đẽ. Dựa vào một số tác phẩm đã học ở lớp 8 phần văn học hiện thực 1930- 1945, em hãy làm rõ ý kiến trên. Qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu đề, tôi rèn cho các em chỉ ra được hình thức lập luận của 2 đề văn trên đều là chứng minh. Yêu cầu này thường được thể hiện ở các từ ngữ Chứng minh, làm sáng tỏ hoặc làm rõ, Từ đó tôi rèn thói quen cần thiết khi làm bài là phải xác định chính xác hình thức lập luận của đề bài, nhằm giúp các em dùng đúng hình thức lập luận phù hợp với yêu cầu của đề bài. 2. Rèn luyện kỹ năng tìm ý xây dựng hệ thống luận điểm, sắp xếp các luận điểm trong bài văn nghị luận. Như ta đã biết, trong một bài văn nghị luận, luận điểm chính là linh hồn của bài văn. Do đó việc xây dựng hệ thống luận điểm sắp xếp các luận điểm rất quan trọng, không thể lướt qua, chiếu lệ. Để rèn luyện kỹ năng xây dựng luận điểm cho một đề bài cụ thể, trước hết tôi yêu cầu học sinh phân biệt rõ vấn đề nghị luận và luận điểm, luận điểm và luận cứ. Như trong tài liệu SGV nói rõ " Vấn đề như cái tên của nó cho thấy, lại là một câu hỏi đặt ra trước lí trí con người thúc giục con người phải tìm ra lời giải đáp". Những ý kiến quan điểm chủ trương chủ yếu đưa ra để giải đáp cho câu hỏi, để giúp lý trí thông suốt. Đó chính là luận điểm. Không có luận điểm đúng, có cơ sở khoa học đáng tin cậy thì không thể làm sáng tỏ được vấn đề. Vì vậy, việc tìm được hay không tìm được luận điểm đúng sẽ quyết định việc học sinh có làm được hay không làm đúng được yêu cầu của bài văn nghị luận. Như vậy luận điểm không phải là vấn đề, cũng không phải là một khía cạnh của vấn đề. Vấn đề có thể là câu hỏi, luận điểm là sự trả lời. Những câu hỏi "Tại sao phải dời đô" trong "Chiếu dời đô" đó không phải là một luận điểm. Luận điểm phải đạt các tiêu chuẩn Chính xác, rõ ràng phù hợp với yêu cầu để giải quyết vấn đề. Công việc xây dựng hệ thống luận điểm có vai trò quan trọng. Nếu các em đã tìm đủ các luận điểm cần thiết, sắp xếp các luận điểm đó thành bố cục hợp lý và biết cách trình bày luận điểm bằng các luận cứ phù hợp làm sáng tỏ luận điểm thì việc viết bài nghị luận không còn là khó khăn nữa. Khi thực hành luyện tập kĩ năng này, tôi lưu ý học sinh là luôn nhớ và nhắc lại lý thuyết cơ bản để tạo thói quen đi từ lý thuyết đến thực hành tránh tuỳ tiện, qua loa đại khái. Yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ nội dung trước khi vào luyện tập như đọc kĩ văn bản văn học, tra cứu tài liệu, chuẩn bị lý lẽ, dẫn chứng, ý kiến quan điểm xung quanh vấn đề. Dành thời gian cho học sinh luyện tập kĩ năng này, tôi sử dụng các bài tập sau * Dạng bài tập 1 Tập viết câu chủ đề nêu luận điểm. Tôi cho một số đoạn văn nghị luận chưa có câu chủ đề, yêu cầu học sinh Nêu nội dung chính của đoạn văn bằng một câu văn ngắn gọn câu luận điểm chính xác rõ ràng.câu chủ đề. * Dạng bài tập 2 Chọn luận điểm trong hệ thống luận điểm đã có sẵn cho phù hợp với vấn đề nghị luận và sau đó sắp xếp các luận điểm theo trình tự hợp lý. Ví dụ Giải thích câu nói của "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống". Với đề trên, một bạn đã dự kiến đưa ra hệ thống luận điểm phần thân bài như sau a- Sách là sản phẩm có giá trị của loài người, là nguồn kiến thức rộng lớn. b- Tác dụng của sách không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. c- Đã có những cuốn sách không chỉ là con đường sống cho một người , trăm người, triệu người mà cho cả nhân loại. d- Có nhiều loại sách tốt, xấu. e- Em rất thích đọc sách, đọc sách là một cách học hỏi. g- Ngày nay con người còn tạo ra "đĩa mềm" lưu giữ thu thập mọi dữ liệu về các lĩnh vực. h- Dù ở thời hiện đại, nhiều máy móc tinh xảo, sách vẫn là người bạn bình dị chân thành và giàu trí thức của mỗi chúng ta. y-Vì sao chúng ta phải yêu sách? Chúng ta phải yêu sách như thế nào? ............................................. Em có nhất trí dùng tất cả các dự kiến mà bạn đã nêu ra không? Nếu không em chọn ra và sắp xếp lại cho phù hợp? Vì sao em sắp xếp như thế? Mục đích của dạng bài tập này là bước đầu nhận biết cách nêu luận điểm và sắp xếp luận điểm phù hợp với vấn đề nghị luận. * Dạng bài tập 3 Xây dựng hệ thống luận điểm, sắp xếp luận điểm. Ví dụ Đề bài a. Hãy tìm những luận điểm chính để chứng minh rằng " Rừng mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống con người". b. Hãy tìm các luận điểm cơ bản để chứng minh rằng lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là người nông dân bất hạnh nhưng có nhiều phẩm chất tốt đẹp. Với dạng bài tập này, tôi yêu cầu học sinh tự xây dựng hệ thống luận điểm. Tôi hướng dẫn các em làm bài tập này theo từng bước + Bước thứ nhất Học sinh tìm và xây dựng hệ thống luận điểm. + Bước thứ hai Học sinh trình bày hệ thống luận điểm trước lớp. + Bước thứ ba Lớp nhận xét đúng, sai và bổ sung thêm ý kiến để các luận điểm vừa đủ, chính xác phù hợp với vấn đề nghị luận. + Bước thứ tư Sau khi học sinh đã xây dựng được hệ thống luận điểm, tôi cho học sinh sắp xếp các luận điểm theo trình tự hợp lý. Luận điểm trước làm cơ sở cho luận điểm sau, luận điểm sau mở rộng hơn các luận điểm trước. Mục đích của dạy bài tập này là rèn luyện cho học sinh thói quen thực hiện những thao tác cần thiết xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ khi làm văn nghị luận. Các em thực hiện tốt những thao tác này thì bài viết của các em trước hết là đã đủ ý , đúng yêu yêu cầu nội dung của đề bài ra. 3. Rèn luyên kĩ năng trình bày luận điểm Để rèn luyên kĩ năng trình bày luận điểm trong bài văn nghị luận, tôi yêu cầu học sinh ghi nhớ một số kiến thức sau + Muốn làm sáng tỏ 1 luận điểm, trước hết cần xác định luận điểm nói về lĩnh vực nào ? Đời sống văn học? Gần hay xa so với cuộc sống quanh ta? + Huy động những hiểu biết của người làm văn để tìm ra các luận cứ phù hợp phục vụ cho việc làm sáng rõ luận điểm. + Sắp xếp các luận cứ theo một trình tự hợp lý và trình bày luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm. + Khi viết học sinh cần xác định vị trí câu chủ đề để biết đoạn văn trình bày theo kiểu diễn dịch, qui nạp ... + Sử dụng hệ thống từ ngữ lập luận tạo sự liên kết và lý lẽ chặt chẽ giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn văn trong bài văn nghị luận. Ngoài những bài tập luyện tập trong sách giáo khoa, tôiđưa thêm 1 số bài tập * Dạng bài tập 1 Sắp xếp các câu văn đã cho sẵn để tạo thành một đoạn văn hoàn chỉnh và hợp lý. Với dạng bài tập này, tôi đưa ra một số câu văn nghị luận không đúng thứ tự, sau đó yêu cầu học sinh sắp xếp thành đoạn văn hợp lý; rèn luyện cho học sinh bước đầu biết cách trình bày luận điểm từ cách viết cách lập luận của đoạn văn. Ví dụ Sắp xếp các câu văn dưới đây để tạo thành một đoạn văn hoàn chỉnh và hợp lý nói về đức tính giản dị của Bác Hồ - Câu 1 Những chân lý giản dị mà sâu sắc đó lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con tim đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. - Câu 2 Suy cho cùng, chân lý, những chân lý lớn của nhân dân ta cũng như của thời đại là giản dị " Không có gì quý hơn độc lập tự do" . " Nước Việt Nam là một , dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn; song chân lý ấy không bao giờ thay đổi". - Câu 3 Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong tác phong. Hồ Chủ Tịch rất giản dị trong lời nói và bài viết, vì muốn cho quần chúng nhân dân hiểu, nhớ được, làm được. Dựa vào nội dung của từng câu văn học sinh xếp theo thứ tự lập luậnCâu3 -2- 1. * Dạng bài tập 2 Sử dụng từ ngữ lập luận trong việc trình bày luận điểm cho một bài văn nghị luân. Tôi cho một số đoạn văn nghị luận đã lược bỏ đi từ ngữ lập luận, yêu cầu học sinh điền từ ngữ lập luận vào chỗ trống cho hợp lý. Ví dụ Cho đoạn văn nghị luận sau điền từ ngữ lập luận thích hợp vào chỗ trống. "Kiều không biết mấy lần nhìn trăng........ cảnh trăng mỗi lần một khác.... rạo rực yêu đương,....... gần gũi âu yếm,............bát ngát bao la,.............ám ảnh như lời trách móc,......cô đơn,..........tàn tạ,.......mong manh. Có thể nói thiên nhiên trong truyện Kiều cũng là một nhân vật , một nhân vật thường vẫn kín đáo, lặng lẽ......không mấy khi không có mặt và luôn luôn thắm đượm tình người.” Hoài Thanh Học sinh có thể điền các từ "nhưng","khi". * Dạng bài tập 3 Tìm luận cứ làm sáng tỏ luận điểm. Ví dụ Hãy tìm các luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm sau "Lão Hạc là một lão nông chất phác, hiền lành và nhân hậu" Dựa vào văn bản Lão Hạc của Nam Cao tìm ra các luận cứ và sắp xếp các luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm trên. Với bài tập này, tôi rèn cho học sinh có thao tác thành thạo kĩ năng tìm luận cứ và sắp xếp luận cứ phù hợp với luận điểm. Đây là khâu rất quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng trình bày luận điểm của bài văn nghị luận. * Dạng bài tập 4 Cho câu chủ đề, triển khai câu chủ đề thành đoạn văn nghị luận có lập luận chặt chẽ. Một số bài tập sau Ví dụ 1 Cho ý sau làm câu chủ đề của đoạn văn Truyện ngắn "Chiếc lá cuối cùng" của O. Henri đã thể hiện rất cảm động tình yêu thương cao cả giữa những người nghèo khổ. Hãy viết tiếp 5 câu để làm sáng tỏ ý trên, trong đó có sử dụng một số cụm từ mở đầu câu như - Tình yêu thương đã khiến cho.... - Đó chẳng phải là.... - Đó chính là .... Ví dụ 2 Em hãy phát triển luận điểm trong hệ thống luận điểm đã xây dựng cho đề bài Chứng minh rằng Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là một người nông dân bất hạnh, nhưng có những phẩm chất trong sạch đẹp đẽ. Ví dụ 3 Chọn hai luận điểm trong hệ thống luận điểm đã xây dựng trong các bài tập xây dựng hệ thống luận điểm. Mỗi luận điểm viết thành một đoạn văn diễn dịch hoặc qui nạp. Có sử dụng từ ngữ lập luận chặt chẽ và liên kết đoạn văn phù hợp. hoặc viết đoạn văn diễn dịch sau đó chuyển thành đoạn văn qui nạp. Từ đó giúp học sinh có kỹ năng trình bày đoạn văn diễn dịch hoặc qui nạp một cách thành thạo. * Dạng bài tập 5 Rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn trình bày luận điểm sử dụng phép lập luận chứng minh, giải thích... Ví dụ "Sách là người bạn thân thiết của mỗi chúng ta." a Em hãy một đoạn văn chứng minh cho đề trên. b Em hãy một đoạn văn giải thích cho đề trên. Sau khi các em viết hoàn thành 2 đoạn văn , tôi cho học sinh so sánh cách lập luận của hai đoạn văn, để học sinh nắm chắc đặc điểm cơ bản của phép lập luận chứng minh khác với phép lập luận giải thích như thế nào. Từ đó các em hình thành các kỹ năng lập luận và áp dụng thành thạo các thao tác lập luận đó vào làm một bài văn nghị luận cụ thể. Với những dạng bài tập trên tôi đã nâng cao dần từng bước khả năng viết văn nghị luận cho các em, tôi yêu cầu các em làm nhiều bài tập này, viết nhiều đoạn văn trình bày luận điểm để các em thành thạo trong việc viết đoạn văn nghị luận. Các em có kỹ năng viết đoạn văn, chuyển đoạn bằng từ ngữ, câu nối đoạn. Từ hệ thống bài tập này, từng bước từ dễ đến khó tôi đã rèn luyện cho các em các bước cần thiết để làm một bài văn nghị luận hoàn chỉnh. 4. Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận Bài văn nghị luận không chỉ tác động đến lý trí mà còn tác động vào tình cảm, cảm xúc của người đọc người nghe. Do đó văn nghị luận rất cần phải có yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm giúp cho bài văn nghị luận tăng thêm sức thuyết phục. Để làm văn nghị luận có sức biểu cảm cao, người làm văn phải thực sự có cảm xúc trước những điều mình nói viết và phải biết diễn tả cảm xúc đó bằng các từ ngữ biểu cảm, câu văn cảm thán. Nhưng sự diễn tả cảm xúc cần phải chân thực không được phá vỡ mạch lạc nghị luận, lấn át nghị luận của bài văn. Chính vì vậy tôi cho các em hiểu rằng không phải vì chú ý tạo ra các yếu tố biểu cảm cho bài văn mà quên rằng văn nghị luận ở kiểu bài giữ vai trò chủ yếu, yếu tố biểu cảm chỉ là phụ trợ. Vậy cần hết sức tránh không để yếu tố biểu cảm tách rời nghị luận hoặc gây cản trở mạch lạc nghị luận hay lấn át vai trò nghị luận. Với kĩ năng này, tôi yêu cầu các em làm bài tập thực hành viết văn nghị luận và luôn có ý thức đưa yếu tố biểu cảm vào đoạn văn nghị luận. Mỗi luận điểm đan xen yếu tố biểu cảm như thế nào cho vừa đủ và phù hợp. Để rèn luyện kĩ năng này, tôi hướng dẫn các em làm các bài tập trong sách giáo khoa. Từ các bài tập trong các văn bản nghị luận chuẩn mực trong chương trình các em học tập cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận và thấy được vai trò tác dụng của các yếu tố biểu cảm đó. Bên cạnh bài tập trong SGK, tôi đưa thêm một số bài tập khác như sau * Dạng bài tập 1 Điền vào chỗ trống những từ ngữ cần thiết để đoạn văn nghị luận có sức biểu cảm thuyết phục hơn. Ví dụ Đoạn văn "Những ngày thơ ấu là một tập hồi kí ..... về tuổi thơ..... của Nguyên Hồng trong chế độ cũ. ở đoạn trích "Trong lòng mẹ" tác giả đã miêu tả một cách..... những rung động.... của một tâm hồn trẻ dại". Đó là nỗi nhớ thương yêu quí sâu sắc của bé Hồng với người mẹ của mình." Tôi đưa ra nhiều đoạn văn tương tự trên tổ chức cho các em trao đổi thảo luận và cùng nhau thống nhất điền từ ngữ biểu cảm và câu cảm thán vào chỗ trống cho phù hợp để đoạn văn nghị luận trở lên giàu cảm xúc hơn. * Dạng bài tập 2 Cho trước câu chủ đề yêu cầu học sinh phát triển câu chủ đề thành một đoạn văn nghị luận sao cho đoạn văn vừa có lý lẽ chặt chẽ vừa có sức truyền cảm. Mục đích của bài tập này giúp cho học sinh từ những kiến thức thu được ở các văn bản mẫu đã học trong chương trình học tập vận dụng vào việc viết đoạn văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm một cách chính xác, hiệu quả. 5. Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố tự sự, miêu tả vào bài văn nghị luận. Trong thực tế đời sống tự sự, miêu tả, biểu cảm là những phương thức biểu đạt khác nhau. Tuy nhiên trong bài văn nghị luận người nói người viết cũng có thể đưa yếu tố tự sự và miêu tả như yếu tố biểu cảm, làm cho bài văn nghị luận tăng hiệu quả diễn đạt lên nhiều lần. Hai yếu tố này giúp cho việc trình bày luận điểm luận cứ trong bài văn nghị luận được rõ ràng cụ thể, sinh động hấp dẫn hơn. Và do đó bài văn có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Việc đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận phải thực sự xuất phát từ nhu cầu nghị luận. Các yếu tố tự sự và miêu tả đưa vào phải phù hợp với luận điểm, luận cứ, phải phục vụ cho việc làm rõ luận điểm, không phá vỡ sự mạch lạc nghị luận của bài văn. Ngoài bài tập SGK, rèn kĩ năng này , tôi cho các em làm các bài tập sau * Dạng bài tập 1 Tìm yếu tố tự sự và miêu tả trong văn bản nghị luận mẫu mực đã học như "Chiếu dời đô" của Lý Công Uẩn, "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn; “Thuế máu” của Nguyễn ái Quốc, hay trong một số văn bản, đoạn văn nghị luận tiêu biểu khác, phân tích ý nghĩa, tác dụng của chúng trong đoạn văn, văn bản. Giúp cho các em nhận biết các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn bản nghị luận, nhận xét cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả của người viết, từ đó các em học tập cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài viết của mình. * Dạng bài tập 2 Tập đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào đoạn văn nghị luận. Ví dụ 1 Hãy thêm những yếu tố miêu tả, tự sự để đoạn văn sau đây trở nên có sức thuyết phục hơn "Ngắm trăng là đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Từ ca dao đến "Truyện Kiều", trăng vẫn xuất hiện như kẻ tri ân. Nhưng con người ta thường chỉ ngắm trăng lúc nhàn nhã. Vậy mà, trong những ngày bị giam cầm, Bác Hồ vẫn ngắm trăng và làm thơ". Tôi yêu cầu học sinh đưa yếu tố miêu tả và tự sự vào đoạn văn trên để cho đoạn văn hấp dẫn sinh động hơn. Học sinh trình bày trước lớp, tập thể lớp nhận xét, bổ sung, sửa chữa nếu có sai sót để thành đoạn văn hoàn chỉnh. Sau đó tôi đọc đoạn văn mẫu làm đáp án để cho học sinh tham khảo, đối chiếu với bài viết của mình, từ đó các em sẽ có kĩ năng nghị luận tốt hơn. Ví dụ 2 Với câu chủ đề "Chị Dậu có tinh thần phản kháng mãnh liệt.". Sau khi đọc đoạn trích "Tức nước vỡ bờ", em hãy viết một đoạn văn triển khai câu chủ đề trên. Chú ý sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả để lập luận . Với bài tập này, tôi rèn cho các em kiên trì luyện tập, không nóng vội. Được luyện tập viết nhiều đoạn văn nghị luận, giúp các em sử dụng thành thạo kĩ năng xây dựng đoạn văn và luôn có ý thức xây dựng đoạn văn nghị luận kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả tự sự biểu cảm trong bài văn nghị luận. Trên đây là các kỹ năng tôi đã rèn luyện làm văn nghị luận cho học sinh THCS, đặc biệt là ở lớp 8 và lớp 9. Với chuyên đề này, đòi hỏi giáo viên nắm vững nội dung kiến thức và mục tiêu chương trình, đối tượng học sinh để chọn những bài tập luyện tập cụ thể phù hợp và từng bước hình thành, rèn luyện cho các em có được những kỹ năng làm văn nghị luận, phát huy khả năng tư duy, năng lực phát triển và tự thể hiện, luôn chủ động, tự tin tron
rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận